Điều 4. Giáo viên trung học cơ sở hạng II - Mã số V.07.04.31
Căn cứ: Điều 4, 03/2021/TT-BGDĐT — Thông tư 03/2021/TT-BGDĐT quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường trung học cơ sở công lập
Tóm tắt
Điều 4 quy định nhiệm vụ, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và điều kiện thời gian giữ hạng III khi dự thi/xét thăng hạng lên giáo viên THCS hạng II (mã số V.07.04.31). Giáo viên hạng II ngoài các yêu cầu của hạng III còn phải thực hiện thêm nhiệm vụ chuyên môn cấp trường trở lên và đáp ứng điều kiện thâm niên 09 năm.
Ý chính cần nhớ
- ▸Mã số chức danh: V.07.04.31
- ▸Ngoài nhiệm vụ của hạng III, phải làm báo cáo viên/dạy minh họa, hướng dẫn hoặc đánh giá sản phẩm NCKH, tham gia hoạt động xã hội, đoàn đánh giá ngoài/kiểm tra chuyên môn, ban giám khảo/ra đề hội thi từ cấp trường trở lên
- ▸Đạo đức: luôn gương mẫu thực hiện quy định về đạo đức nhà giáo
- ▸Trình độ: bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên; trường hợp chưa đủ GV thì dùng cử nhân chuyên ngành phù hợp kèm chứng chỉ bồi dưỡng NVSP
- ▸Có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II
- ▸Năng lực: điều chỉnh linh hoạt kế hoạch, dạy học tích hợp, ứng dụng CNTT, ngoại ngữ/tiếng dân tộc, tư vấn tâm lý - hướng nghiệp
- ▸Phải được công nhận chiến sĩ thi đua cơ sở hoặc bằng khen/giấy khen cấp huyện trở lên hoặc danh hiệu GV dạy giỏi/GVCN giỏi/Tổng phụ trách giỏi theo mức quy định
- ▸Thời gian giữ hạng III (V.07.04.32) hoặc tương đương đủ từ 09 năm trở lên, không kể tập sự, tính đến hạn nộp hồ sơ
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm mã số hạng II (V.07.04.31) với hạng III (V.07.04.32)
- Tưởng thời gian 09 năm tính cả tập sự - thực tế không kể tập sự
- Cho rằng bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp là đủ - còn phải có chứng chỉ bồi dưỡng NVSP khi môn học chưa đủ GV có bằng ngành đào tạo giáo viên
Giải thích
Nguyên văn Điều 4. Giáo viên trung học cơ sở hạng II - Mã số
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.