Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 295/2025/NĐ-CP

Điều 4. Nguyên tắc, điều kiện chung hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích

Căn cứ: Điều 4, 295/2025/NĐ-CP — Nghị định 295/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Viễn thông về hoạt động viễn thông công ích và cơ chế tài chính thực hiện hoạt động viễn thông công ích

Tóm tắt

Điều 4 quy định các nguyên tắc hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích, bao gồm đảm bảo phổ cập dịch vụ, không trùng lặp hỗ trợ, minh bạch và tuân thủ định mức chi phí. Điều này cũng nêu điều kiện chung: doanh nghiệp có giấy phép, chương trình được Thủ tướng phê duyệt, và Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt kế hoạch, dự toán.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nguyên tắc: đảm bảo người dân khu vực khó khăn tiếp cận dịch vụ viễn thông công ích; đảm bảo thông tin liên lạc khẩn cấp.
  • ▸Doanh nghiệp đang thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập tiếp tục được hỗ trợ đến khi kết thúc hợp đồng nếu có doanh nghiệp thứ hai tham gia.
  • ▸Doanh nghiệp được hỗ trợ phải đáp ứng yêu cầu phổ cập tại Điều 5; phần đầu tư nhiều hơn tự bù đắp.
  • ▸Hỗ trợ phải phù hợp phạm vi, nhiệm vụ chương trình; khi doanh thu không đủ bù chi phí thì thực hiện qua đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ.
  • ▸Không vượt định mức chi phí do cơ quan nhà nước ban hành; không trùng lặp với chính sách hỗ trợ đối tượng sử dụng dịch vụ và nguồn kinh phí bù đắp.
  • ▸Đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, tiết kiệm, đúng quy định phòng chống tham nhũng, tiêu cực, không có lợi ích nhóm.
  • ▸Điều kiện chung: doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình; Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt kế hoạch và dự toán.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa hỗ trợ doanh nghiệp và hỗ trợ đối tượng sử dụng dịch vụ viễn thông công ích.
  • Cho rằng doanh nghiệp mới tham gia sẽ thay thế doanh nghiệp đang thực hiện hợp đồng, trong khi doanh nghiệp cũ tiếp tục được hỗ trợ đến khi kết thúc hợp đồng.
  • Bỏ qua yêu cầu không vượt định mức chi phí và không trùng lặp nguồn kinh phí.

Giải thích

Điều 4 Nghị định 295/2025/NĐ-CP quy định nguyên tắc và điều kiện hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích. Về nguyên tắc, Nhà nước hỗ trợ để người dân ở khu vực khó khăn được phổ cập dịch vụ viễn thông, đảm bảo liên lạc khẩn cấp. Nếu doanh nghiệp đang thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập mà có doanh nghiệp thứ hai tham gia cùng loại dịch vụ, doanh nghiệp cũ vẫn tiếp tục được hỗ trợ đến hết thời hạn hợp đồng. Doanh nghiệp được hỗ trợ phải đáp ứng yêu cầu phổ cập tại Điều 5; phần đầu tư vượt yêu cầu Nhà nước thì tự bù đắp. Hỗ trợ phải phù hợp chương trình, không trùng lặp, không vượt định mức chi phí và đảm bảo công khai, minh bạch. Về điều kiện, doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng; Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt kế hoạch và dự toán kinh phí hỗ trợ.
Nguyên văn Điều 4. Nguyên tắc, điều kiện chung hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung
cấp dịch vụ viễn thông công ích 1. Nguyên tắc hỗ trợ cho doanh nghiệp viễn thông để thực hiện cung cấp dịch vụ viễn thông công ích: a) Đảm bảo cung cấp dịch vụ viễn thông công ích cho người dân tại các khu vực khó khăn được phổ cập dịch vụ viễn thông phổ cập tiếp cận, sử dụng dịch vụ khi có nhu cầu; đảm bảo thông tin liên lạc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật; b) Trường hợp doanh nghiệp viễn thông đang thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập theo quy định mà có doanh nghiệp viễn thông thứ hai trở lên tham gia cung cấp cùng loại dịch vụ ở khu vực đó thì doanh nghiệp đang thực hiện hợp đồng tiếp tục được hỗ trợ cho đến khi kết thúc thời gian thực hiện hợp đồng; c) Doanh nghiệp viễn thông được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập phải đáp ứng yêu cầu về phổ cập dịch vụ viễn thông theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này; phần doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn (nếu có) so với các yêu cầu của Nhà nước thì doanh nghiệp tự bù đắp chi phí; d) Doanh nghiệp viễn thông được hỗ trợ cung cấp dịch vụ viễn thông công ích phải phù hợp với phạm vi, nhiệm vụ của chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; khi doanh thu phát sinh không đủ bù đắp chi phí và phải thông qua các phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 của Nghị định này; đ) Đối với các khoản chi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành định mức chi phí cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập, việc hỗ trợ doanh nghiệp bù đắp chi phí phát triển, nâng cấp, duy trì cơ sở hạ tầng viễn thông để cung cấp dịch vụ viễn thông phổ cập theo các phương thức đấu thầu, đặt hàng không được vượt quá định mức chi phí liên quan; đồng thời, việc hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông công ích phải đảm bảo không trùng lặp với chính sách hỗ trợ các đối tượng sử dụng dịch vụ viễn thông công ích, không trùng lặp về nguồn kinh phí bù đắp chi phí của doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định này; e) Việc hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng, tiết kiệm, đúng quy định về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, không có lợi ích nhóm. 2. Điều kiện chung về hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích: a) Điều kiện đối với doanh nghiệp: Doanh nghiệp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng và doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông công ích thông qua các phương thức đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ; b) Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích; c) Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt kế hoạch cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và dự toán kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông công ích theo quy định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.