Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 37/2026/NĐ-CP

Điều 4. Nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa

Căn cứ: Điều 4, 37/2026/NĐ-CP — Nghị định 37/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Tóm tắt

Điều 4 quy định các nguyên tắc xác định mức độ rủi ro dựa trên bằng chứng khoa học, khả năng quản lý, tính minh bạch, tỷ lệ và nguyên tắc phòng ngừa; phân loại thành ba nhóm rủi ro cao, trung bình, thấp; phương pháp định lượng theo Phụ lục VI và cho phép bộ ngành quy định yêu cầu đặc thù.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nguyên tắc: bằng chứng khoa học, khả năng quản lý, minh bạch - khách quan - kế thừa, tỷ lệ, phòng ngừa.
  • ▸Ba nhóm rủi ro: cao, trung bình, thấp.
  • ▸Rủi ro cao: nguy hại lớn, khả năng xảy ra cao, hậu quả nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng.
  • ▸Rủi ro trung bình: nguy hại hoặc khả năng xảy ra ở mức trung bình, ảnh hưởng đáng kể.
  • ▸Rủi ro thấp: nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra thấp, hầu như không ảnh hưởng đáng kể.
  • ▸Phương pháp định lượng theo Phụ lục VI; bộ ngành có thể quy định yêu cầu đặc thù.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nguyên tắc phòng ngừa chỉ áp dụng khi có nguy cơ nghiêm trọng mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học.
  • Không nhầm 'khả năng quản lý của cơ quan nhà nước' là yếu tố duy nhất; phải kết hợp nhiều nguyên tắc.

Giải thích

Điều 4 đặt ra cách xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa. Có năm nguyên tắc: dựa vào bằng chứng khoa học và dữ liệu thực tiễn; xét khả năng quản lý của cơ quan nhà nước; bảo đảm minh bạch, khách quan, kế thừa; bảo đảm tỷ lệ giữa yêu cầu quản lý và mức rủi ro; áp dụng nguyên tắc phòng ngừa khi có nguy cơ nghiêm trọng nhưng chưa đủ bằng chứng. Sản phẩm được phân thành ba nhóm: rủi ro cao (nguy hại lớn, khả năng xảy ra cao, hậu quả nghiêm trọng), rủi ro trung bình (nguy hại hoặc khả năng xảy ra trung bình), rủi ro thấp (nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra thấp, hầu như không ảnh hưởng đáng kể). Phương pháp định lượng theo Phụ lục VI; bộ quản lý ngành có thể quy định yêu cầu đặc thù.
Nguyên văn Điều 4. Nguyên tắc và phương pháp xác định mức độ rủi ro của sản
phẩm, hàng hóa 1. Việc xác định mức độ rủi ro của sản phẩm, hàng hóa được thực hiện theo nguyên tắc sau: a) Căn cứ vào bằng chứng khoa học và dữ liệu áp dụng trong thực tiễn; b) Khả năng quản lý của cơ quan nhà nước trong từng thời kỳ; c) Bảo đảm tính minh bạch, khách quan, kế thừa nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa; d) Bảo đảm nguyên tắc tỷ lệ, yêu cầu quản lý nhà nước phải tương xứng với mức độ rủi ro; đ) Áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong trường hợp có nguy cơ nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người, môi trường hoặc an ninh quốc gia mà chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học. 2. Phân loại rủi ro: Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro: a) Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp; b) Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp; c) Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường. 3. Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng Phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng của sản phẩm, hàng hóa quy định tại Phụ lục VI của Nghị định này. Trường hợp cần thiết phải có quy định cho phù hợp với đặc thù của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, trên cơ sở phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng quy định tại Nghị định này, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định yêu cầu đặc thù riêng trong phương pháp xác định mức độ rủi ro định lượng cho sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.