Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 96/2026/NĐ-CP

Điều 41. Thực hiện thủ tục đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư

Căn cứ: Điều 41, 96/2026/NĐ-CP — Nghị định 96/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Tóm tắt

Nhà đầu tư phải kê khai trực tuyến trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư trước khi nộp hồ sơ cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, và phải nộp hồ sơ trong 10 ngày làm việc, nếu quá hạn thì hồ sơ kê khai trực tuyến không còn hiệu lực. Cơ quan đăng ký đầu tư dùng Hệ thống để tiếp nhận, xử lý, trả kết quả và cấp mã số dự án. Khi Hệ thống gặp sự cố, thực hiện quy trình dự phòng với vai trò cấp mã số của Bộ Tài chính.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Trước khi làm thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư kê khai trực tuyến trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.
  • ▸Thời hạn nộp hồ sơ cho cơ quan đăng ký đầu tư là 10 ngày làm việc kể từ ngày kê khai trực tuyến.
  • ▸Quá 10 ngày làm việc mà cơ quan đăng ký đầu tư không nhận được hồ sơ thì hồ sơ kê khai trực tuyến không còn hiệu lực.
  • ▸Mã số dự án đầu tư có hiệu lực khi bản điện tử của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được ghi nhận, lưu trữ vào Hệ thống.
  • ▸Khi Hệ thống gặp sự cố: nhận hồ sơ giấy, đề nghị Bộ Tài chính cấp mã số; Bộ Tài chính cấp trong 02 ngày làm việc; trong 05 ngày làm việc cơ quan đăng ký đầu tư cập nhật thông tin vào Hệ thống.

Lưu ý dễ nhầm

  • Không nắm mốc hiệu lực của mã số dự án đầu tư.

Giải thích

Điều 41 quy định thực hiện thủ tục đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Khoản 1 buộc nhà đầu tư kê khai trực tuyến thông tin dự án trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và phải nộp hồ sơ trong 10 ngày làm việc kể từ ngày kê khai; quá hạn thì hồ sơ kê khai trực tuyến không còn hiệu lực. Khoản 2 quy định cơ quan đăng ký đầu tư dùng Hệ thống để tiếp nhận, xử lý, trả kết quả và cấp mã số; mã số dự án có hiệu lực khi bản điện tử Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được ghi nhận, lưu trữ vào Hệ thống. Khoản 3 quy định quy trình dự phòng khi Hệ thống gặp sự cố: nhận hồ sơ giấy, đề nghị Bộ Tài chính cấp mã số trong 02 ngày làm việc và cập nhật thông tin vào Hệ thống trong 05 ngày làm việc.
Nguyên văn Điều 41. Thực hiện thủ tục đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư
1. Trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư kê khai trực tuyến các thông tin về dự án đầu tư trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày kê khai hồ sơ trực tuyến, nhà đầu tư nộp hồ sơ cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư. Quá thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày khai hồ sơ trực tuyến mà cơ quan đăng ký đầu tư không nhận được hồ sơ thì hồ sơ kê khai trực tuyến không còn hiệu lực. 2. Cơ quan đăng ký đầu tư sử dụng Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để tiếp nhận, xử lý, trả kết quả thực hiện thủ tục đầu tư, cấp nhật tình hình xử lý hồ sơ và cấp mã số cho dự án đầu tư. Mã số dự án đầu tư có hiệu lực khi bản điện tử của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được ghi nhận, lưu trữ vào Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư. 3. Trường hợp Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư gặp sự cố không thể truy cập, cơ quan đăng ký đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy trình dự phòng như sau: a) Cơ quan đăng ký đầu tư tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bằng bản giấy và có văn bản đề nghị Bộ Tài chính cấp mã số cho dự án đầu tư. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của cơ quan đăng ký đầu tư, Bộ Tài chính cấp mã số dự án và thông báo cho cơ quan đăng ký đầu tư; b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được cấp theo quy trình dự phòng, cơ quan đăng ký đầu tư cập nhật thông tin về dự án đầu tư vào Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.