Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 20/2023/QH15

Điều 46. Tài khoản giao dịch điện tử

Căn cứ: Điều 46, 20/2023/QH15 — Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 46 quy định về tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp và quản lý, sử dụng theo Luật này. Tài khoản được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch. Lịch sử giao dịch của tài khoản có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu về an toàn hệ thống, gắn duy nhất với chủ tài khoản và bảo đảm chính xác thời gian giao dịch.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật Giao dịch điện tử.
  • ▸Tài khoản giao dịch điện tử được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, nhằm lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản.
  • ▸Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng tài khoản giao dịch điện tử phù hợp với nhu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • ▸Lịch sử giao dịch của tài khoản giao dịch điện tử có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu: hệ thống thông tin bảo đảm an toàn theo quy định pháp luật về an toàn thông tin mạng; gắn duy nhất với một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là chủ tài khoản; bảo đảm chính xác thời gian giao dịch từ nguồn thời gian theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng mọi lịch sử giao dịch đều đương nhiên có giá trị pháp lý mà không cần đáp ứng điều kiện.
  • Cho rằng tài khoản giao dịch điện tử do cơ quan nhà nước cấp trong mọi trường hợp.
  • Bỏ sót yêu cầu về nguồn thời gian chuẩn quốc gia khi xác định giá trị pháp lý của lịch sử giao dịch.

Giải thích

Điều 46 Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 quy định về tài khoản giao dịch điện tử. Tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấp và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật này. Tài khoản được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, nhằm lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng tài khoản giao dịch điện tử phù hợp với nhu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Lịch sử giao dịch của tài khoản giao dịch điện tử có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu: hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng; gắn duy nhất với một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là chủ tài khoản; bảo đảm chính xác thời gian giao dịch từ nguồn thời gian theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia.
Nguyên văn Điều 46. Tài khoản giao dịch điện tử
1. Tài khoản giao dịch điện tử do chủ quản hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử cấ p và được quản lý, sử dụng theo quy định của Luật này. 2. Tài khoản giao dịch điện tử được sử dụng để thực hiện giao dịch điện tử, nhằm lưu trữ lịch sử giao dịch và bảo đảm chính xác trình tự giao dịch của chủ tài khoản, có giá trị chứng minh lịch sử giao dịch của các bên tham gia theo quy định tại khoản 4 Điều này. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn sử dụng tài khoản giao dịch điện tử phù hợp với nhu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 4. Lịch sử giao dịch của tài khoản giao dịch điện tử có giá trị pháp lý để chứng minh giao dịch khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: a) Hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử phải bảo đảm an toàn theo quy đị nh của pháp luật về an toàn thông tin mạng; b) Gắn duy nhất với một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân là chủ tài khoản giao dịch điện tử; c) Bảo đảm chính xác thời gian giao dịch từ nguồn thời gian theo quy định của pháp luật về nguồn thời gian chuẩn quốc gia.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.