Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 115/2025/NĐ-CP

Điều 47. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng mã, số viễn thông

Căn cứ: Điều 47, 115/2025/NĐ-CP — Nghị định 115/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Viễn thông về quản lý kho số viễn thông, tài nguyên Internet; việc bồi thường khi nhà nước thu hồi mã, số viễn thông, tài nguyên Internet; đấu giá quyền sử dụng mã, số viễn thông, tên miền quốc gia Việt Nam ".vn"

Tóm tắt

Điều 47 quy định điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng mã, số viễn thông trúng đấu giá. Tổ chức, doanh nghiệp được phân bổ số dịch vụ tin nhắn ngắn, số giải đáp thông tin, mã mạng H2H qua đấu giá được chuyển nhượng cho tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu giá. Thời gian tối thiểu trước khi chuyển nhượng là 02 năm với mã mạng H2H và 06 tháng với số dịch vụ tin nhắn ngắn, số giải đáp thông tin. Số thuê bao di động H2H được chuyển nhượng sau khi hòa mạng, đăng ký thông tin thuê bao.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tổ chức, doanh nghiệp trúng đấu giá số dịch vụ tin nhắn ngắn, số giải đáp thông tin, mã mạng H2H được chuyển nhượng cho tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu giá đã tham gia.
  • ▸Mã mạng di động H2H: phải khai thác, sử dụng tối thiểu 02 năm mới được chuyển nhượng.
  • ▸Số dịch vụ giải đáp thông tin, số dịch vụ ứng dụng tin nhắn ngắn: phải khai thác, sử dụng tối thiểu 06 tháng mới được chuyển nhượng.
  • ▸Số thuê bao di động H2H: được chuyển nhượng cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sau khi đã hòa mạng, đăng ký thông tin thuê bao tại doanh nghiệp viễn thông được phân bổ mã mạng H2H gắn với số đó.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời gian tối thiểu chuyển nhượng mã mạng H2H (02 năm) với số dịch vụ tin nhắn ngắn, giải đáp thông tin (06 tháng).
  • Tưởng rằng số thuê bao di động H2H có thể chuyển nhượng ngay mà không cần hòa mạng, đăng ký thông tin thuê bao.
  • Cho rằng tổ chức, doanh nghiệp nhận chuyển nhượng không cần đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu giá mà bên chuyển nhượng đã tham gia.

Giải thích

Bài học này giúp bạn nắm điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng mã, số viễn thông đã trúng đấu giá. Tổ chức, doanh nghiệp được phân bổ số dịch vụ tin nhắn ngắn, số giải đáp thông tin hoặc mã mạng H2H qua đấu giá chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu giá mà bên chuyển nhượng đã tham gia. Về thời gian: mã mạng H2H phải được khai thác, sử dụng tối thiểu 02 năm; số dịch vụ giải đáp thông tin và số dịch vụ tin nhắn ngắn phải khai thác, sử dụng tối thiểu 06 tháng. Riêng số thuê bao di động H2H được chuyển nhượng cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác sau khi đã hòa mạng và đăng ký thông tin thuê bao tại doanh nghiệp viễn thông được phân bổ mã mạng H2H gắn với số đó. Các quy định này nhằm đảm bảo việc chuyển nhượng diễn ra minh bạch, đúng đối tượng và tránh đầu cơ.
Nguyên văn Điều 47. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng mã, số viễn thông
1. Tổ chức, doanh nghiệp được phân bổ số dịch vụ ứng dụng tin nhắn ngắn, số dịch vụ giải đáp thông tin, mã mạng di động H2H qua phương thức đấu giá được chuyển nhượng quyền sử dụng mã, số viễn thông này cho các tổ chức, doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu quy định tại cuộc đấu giá mà tổ chức, doanh nghiệp chuyển nhượng tham gia. 2. Tổ chức, doanh nghiệp được chuyển nhượng quyền sử dụng mã mạng di động H2H phân bổ qua phương thức đấu giá sau khi đưa mã mạng di động H2H vào khai thác sử dụng tối thiểu 02 năm; được chuyển nhượng quyền sử dụng số dịch vụ giải đáp thông tin, số dịch vụ ứng dụng tin nhắn ngắn phân bổ qua đấu giá sau khi đưa vào khai thác, sử dụng tối thiểu 06 tháng. 3. Tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân được chuyển nhượng quyền sử dụng số thuê bao di động H2H phân bổ qua phương thức đấu giá cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân khác sau khi đã hòa mạng, đăng ký thông tin thuê bao tại doanh nghiệp viễn thông cung cấp dịch vụ đã được phân bổ mã mạng di động H2H gắn với số thuê bao di động H2H đó.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.