Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 232/2026/NĐ-CP

Điều 5. Nguyên tắc xác định vị trí việc làm

Căn cứ: Điều 5, 232/2026/NĐ-CP — Nghị định 232/2026/NĐ-CP Quy định về vị trí việc làm của viên chức

Tóm tắt

Điều 5 quy định 06 nhóm nguyên tắc xác định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập. Việc xác định phải căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và phù hợp danh mục khung; đồng thời bảo đảm không làm thay đổi tên gọi, không phát sinh vị trí việc làm mới ngoài danh mục khung.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức; phù hợp danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ quy định.
  • ▸Mỗi vị trí việc làm gắn với nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung cơ bản giống nhau hoặc tương đồng.
  • ▸Cụ thể hóa nội dung công việc trong bản mô tả công việc và khung năng lực; không đổi tên, không phát sinh vị trí việc làm mới.
  • ▸Phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc thể hiện qua các bậc nghề nghiệp, không dùng để hình thành vị trí việc làm mới.
  • ▸Vị trí việc làm quản lý: một chức danh quản lý tương ứng một vị trí; từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó thì phân công không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không đổi tên gọi; gắn với một vị trí chuyên môn, nghiệp vụ hoặc hỗ trợ.
  • ▸Danh mục vị trí việc làm dùng thống nhất trong đơn vị; phân công nhiệm vụ cụ thể không làm thay đổi vị trí việc làm đã xác định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Lầm tưởng phát triển, mở rộng phạm vi công việc được tạo vị trí việc làm mới (khoản 4).
  • Lầm tưởng việc phân công phụ trách lĩnh vực của cấp phó làm phát sinh vị trí việc làm mới hoặc đổi tên gọi (khoản 5).
  • Nhầm giữa phân công nhiệm vụ cụ thể với thay đổi vị trí việc làm đã xác định (khoản 6).

Giải thích

Điều 5 đặt ra các nguyên tắc nền tảng khi xác định vị trí việc làm của viên chức. Thứ nhất, việc xác định phải dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ quy định. Thứ hai, mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. Thứ ba, việc cụ thể hóa nội dung công việc theo chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thể hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực, nhưng không làm thay đổi tên gọi và không phát sinh vị trí việc làm mới. Thứ tư, sự phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải thể hiện qua các bậc nghề nghiệp, không dùng để hình thành vị trí việc làm mới. Đối với vị trí việc làm quản lý, một chức danh quản lý tương ứng một vị trí việc làm; nếu có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó thì phân công phụ trách không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không đổi tên gọi; vị trí này gắn với một vị trí chuyên môn, nghiệp vụ hoặc hỗ trợ phù hợp. Cuối cùng, danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã xác định.
Nguyên văn Điều 5. Nguyên tắc xác định vị trí việc làm
1. Bảo đảm việc xác định vị trí việc làm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với danh mục vị trí việc làm khung theo quy định của Chính phủ. 2. Bảo đảm mỗi vị trí việc làm được xác định trên cơ sở nhóm nhiệm vụ có tính chất, nội dung công việc cơ bản giống nhau hoặc tương đồng. 3. Bảo đảm việc cụ thể hóa nội dung công việc của vị trí việc làm theo lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, phạm vi công tác hoặc đối tượng phục vụ được thực hiện trong bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; không làm thay đổi tên gọi và không làm phát sinh vị trí việc làm mới. 4. Bảo đảm việc phát triển, mở rộng phạm vi, mức độ phức tạp của công việc phải được thể hiện thông qua các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không được sử dụng để hình thành vị trí việc làm mới. 5. Đối với vị trí việc làm quản lý: a) Một chức danh quản lý tương ứng với một vị trí việc làm; b) Trường hợp có từ 02 người trở lên giữ chức danh cấp phó của người đứng đầu thì việc phân công phụ trách lĩnh vực, nhiệm vụ cụ thể không làm phát sinh vị trí việc làm mới, không làm thay đổi tên gọi của vị trí việc làm; c) Gắn với một vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ phù hợp với lĩnh vực được giao phụ trách; là căn cứ để xác định nhiệm vụ chuyên môn, yêu cầu về năng lực và việc thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức theo quy định của pháp luật. 6. Danh mục vị trí việc làm được sử dụng thống nhất trong đơn vị; việc phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm đã được xác định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.