Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 232/2026/NĐ-CP

Điều 6. Danh mục vị trí việc làm viên chức

Căn cứ: Điều 6, 232/2026/NĐ-CP — Nghị định 232/2026/NĐ-CP Quy định về vị trí việc làm của viên chức

Tóm tắt

Điều 6 quy định danh mục vị trí việc làm viên chức gồm ba nhóm theo các Phụ lục I, II, III của Nghị định: quản lý; chuyên môn, nghiệp vụ; hỗ trợ. Điều này cũng nêu nguyên tắc xác định vị trí chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ, các yêu cầu không phát sinh vị trí ngoài danh mục khung, không đổi tên, không chia tách/gộp vị trí, tiêu chí lựa chọn danh mục khung khi một vị trí xuất hiện ở cả hai danh mục và ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành nếu có quy định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Có 03 nhóm vị trí việc làm: quản lý (Phụ lục I), chuyên môn, nghiệp vụ (Phụ lục II), hỗ trợ (Phụ lục III).
  • ▸Danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm.
  • ▸Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành.
  • ▸Không thay đổi tên gọi, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục khung.
  • ▸Khi một vị trí quy định đồng thời ở Danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục hỗ trợ: áp dụng một danh mục phù hợp theo 04 tiêu chí: mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính; tính chất sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành; vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
  • ▸Nếu pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn Phụ lục: Phụ lục I là quản lý, Phụ lục II là chuyên môn, nghiệp vụ, Phụ lục III là hỗ trợ.
  • Cho rằng được phép chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục khung.
  • Bỏ sót 04 tiêu chí xem xét khi một vị trí xuất hiện đồng thời ở Danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục hỗ trợ.
  • Quên nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành khi có quy định về danh mục vị trí việc làm.

Giải thích

Điều 6 xác lập danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập theo ba nhóm gắn với các Phụ lục của Nghị định: Phụ lục I – vị trí việc làm quản lý; Phụ lục II – vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; Phụ lục III – vị trí việc làm hỗ trợ. Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm. Khi xác định, sử dụng vị trí việc làm, phải bảo đảm không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành; không thay đổi tên gọi, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục khung. Nếu một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong Danh mục chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định áp dụng một danh mục khung phù hợp trên cơ sở xem xét bốn tiêu chí: mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính; tính chất của sản phẩm đầu ra; yêu cầu về năng lực chuyên ngành; vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Nguyên văn Điều 6. Danh mục vị trí việc làm viên chức
1. Danh mục vị trí việc làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập được xác định theo các nhóm vị trí việc làm tại các Danh mục vị trí việc làm khung ban hành kèm theo Nghị định này, gồm: a) Phụ lục I: Danh mục vị trí việc làm quản lý; b) Phụ lục II: Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; c) Phụ lục III: Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ. 2. Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc nhóm hoạt động có tính chất, nội dung chuyên môn cơ bản giống nhau là một vị trí việc làm. 3. Việc xác định, sử dụng vị trí việc làm phải bảo đảm các yêu cầu sau: a) Không làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành; b) Không thay đổi tên gọi vị trí việc làm, không chia, tách hoặc gộp vị trí việc làm trong danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành. 4. Trường hợp một vị trí việc làm được quy định đồng thời trong Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và Danh mục vị trí việc làm hỗ trợ, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định việc áp dụng một Danh mục vị trí việc làm khung phù hợp trên cơ sở xem xét các tiêu chí sau: a) Mức độ gắn với chức năng, nhiệm vụ chính của đơn vị: Vị trí việc làm thực hiện trực tiếp chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm phục vụ hoạt động quản lý, điều hành hoặc bảo đảm điều kiện hoạt động chung của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ. b) Tính chất của sản phẩm đầu ra: Vị trí việc làm tạo ra sản phẩm chuyên ngành, có giá trị chuyên môn độc lập và được sử dụng trực tiếp trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm tạo ra sản phẩm phục vụ nội bộ hoặc hỗ trợ quá trình hoạt động của đơn vị được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ. c) Yêu cầu về năng lực chuyên ngành: Vị trí việc làm đòi hỏi kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu, đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chuyên môn hoặc điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm chủ yếu yêu cầu kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ dùng chung, có thể áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ. d) Vai trò trong quy trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị: Vị trí việc làm tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ công cốt lõi của đơn vị được xác định là vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ; vị trí việc làm có chức năng bảo đảm, phục vụ hoặc hỗ trợ quá trình đó được xác định là vị trí việc làm hỗ trợ. 5. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định danh mục vị trí việc làm viên chức thuộc ngành, lĩnh vực thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.