Nguyên văn Điều 54. Quy định chuyển tiếp
1. Chậm nhất là ngày 01 tháng 3 năm 2027, các văn bản quy phạm pháp luật
có nội dung quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy định khác có liên
quan của chính quyền địa phương các cấp phải được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm
phù hợp với tổ chức đơn vị hành chính, các nguyên tắc và các nhiệm vụ, quyền hạn
của chính quyền địa phương các cấp quy định tại Luật này.
Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, để kịp thời thực hiện tổ chức chính
quyền địa phương cấp tỉnh, cấp xã theo quy định tại Luật này và đẩy mạnh phân
quyền, phân cấp cho chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực ưu tiên, cấp
bách, giao Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền
phân định lại nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương và điều chỉnh các
quy định khác có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính
quyền địa phương để thống nhất áp dụng trong thời gian chưa sửa đổi, bổ sung các
luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và định kỳ
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trường hợp liên quan đến luật, nghị quyết
của Quốc hội thì báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
2. Trong thời gian cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành văn bản quy phạm
pháp luật để điều chỉnh nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo quy
định tại khoản 1 Điều này thì các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến
trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương
được tiếp tục thực hiện cho đến khi cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.
3. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kế thừa các thỏa
thuận quốc tế do Ủy ban nhân dân cấp huyện ký kết trước ngày 01 tháng 7 năm 2025;
chịu trách nhiệm thực hiện việc điều chỉnh, cập nhật tên gọi mới của đơn vị hành
chính trong các thỏa thuận quốc tế do Ủy ban nhân dân cấp huyện ký kết trước
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
66 CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
4. Khi chính quyền địa phương cấp huyện kết thúc hoạt động theo quy định tại
khoản 3 Điều 51 của Luật này thì Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có trách
nhiệm xác định các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện nhiệm kỳ 2021 - 2026 được
bầu hoặc đang thực hiện nhiệm vụ đại biểu ở phần địa giới hành chính thuộc đơn
vị hành chính cấp xã hình thành sau sắp xếp hoặc được cơ quan có thẩm quyền
điều động, bố trí công tác tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở đơn vị hành chính cấp
xã đó để làm đại biểu của Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021 - 2026 của đơn vị
hành chính cấp xã tương ứng, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5. Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ở các đơn vị hành chính thực
hiện sắp xếp để hình thành đặc khu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 28
của Luật này kết thúc hoạt động kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
6. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, số lượng Phó Chủ tịch Hội đồng
nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cấp phó của người đứng đầu các cơ quan,
đơn vị trực thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tại các đơn vị hành chính cấp
tỉnh hình thành sau sắp xếp có thể nhiều hơn số lượng so với quy định. Chậm nhất là
05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, số lượng và việc bố trí lãnh đạo,
quản lý ở đơn vị hành chính sau sắp xếp được thực hiện theo quy định.
7. Chậm nhất là ngày 30 tháng 6 năm 2025, Thường trực Hội đồng nhân dân,
các cơ quan thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện phải hoàn thành
việc bàn giao công việc, hồ sơ, tài liệu, tài chính, ngân sách, trụ sở, tài sản, cơ sở
vật chất khác có liên quan cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bảo
đảm hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan, không để gián
đoạn công việc, không để chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót nhiệm vụ, lĩnh vực,
địa bàn, không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động
bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập các Tổ công tác để chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức việc bàn giao công việc,
hồ sơ, tài liệu, tài chính, ngân sách, trụ sở, tài sản, cơ sở vật chất quy định tại
khoản này.
8. Các công việc, thủ tục hành chính, các đơn thư khiếu nại, tố cáo (sau đây
gọi là công việc, thủ tục) của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương cấp huyện
đang giải quyết cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nếu đến thời điểm ngày 01
tháng 7 năm 2025 mà vẫn chưa hoàn thành hoặc đã hoàn thành trước ngày 01
tháng 7 năm 2025 nhưng sau đó phát sinh vấn đề liên quan cần giải quyết thì cơ
quan tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp
huyện hoặc chính quyền địa phương cấp xã mới hình thành sau sắp xếp nơi phát
sinh công việc, thủ tục có trách nhiệm phối hợp với cơ quan liên quan để tiếp tục
giải quyết bảo đảm không làm gián đoạn công việc, không ảnh hưởng đến hoạt
động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp; trường hợp nội dung công
việc, thủ tục có liên quan đến từ 02 đơn vị hành chính cấp xã mới hình thành sau
sắp xếp trở lên hoặc có nội dung phức tạp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
căn cứ quy định tại điểm g khoản 2 và khoản 3 Điều 11 của Luật này có trách
nhiệm chỉ đạo việc giải quyết.
Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về phân
quyền, phân cấp, phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương được giao tại
khoản 1 Điều này đã có quy định về việc giải quyết đối với các công việc, thủ tục
quy định tại khoản này thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.
9. Trường hợp cần giải quyết các vấn đề phát sinh khi tổ chức chính quyền địa
phương cấp tỉnh và cấp xã theo quy định của Luật này thì thực hiện như sau:
a) Chính phủ xem xét, ban hành văn bản giải quyết hoặc ủy quyền ban hành văn
bản giải quyết các vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền của Quốc hội, định kỳ hằng quý
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;
b) Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,
Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có
trách nhiệm xem xét, ban hành văn bản hoặc ủy quyền ban hành văn bản để giải
quyết các vấn đề phát sinh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình;
c) Cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại điểm a và điểm b khoản này có
thể ban hành văn bản hành chính để hướng dẫn giải quyết các vấn đề phát sinh;
đồng thời tổ chức xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm
quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh nội dung quy định tại văn bản hành chính
hoặc nội dung đã ủy quyền ban hành.
Văn bản hành chính, văn bản được ban hành theo ủy quyền phải được cơ quan,
người có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó bãi bỏ ngay khi văn bản quy phạm
pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành có hiệu lực thi hành;
68 CÔNG BÁO/Số 807 + 808/Ngày 24-6-2025
d) Văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại các điểm a, b và c
khoản này hết hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 hoặc kể từ ngày
văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền ban hành để thay
thế có hiệu lực thi hành, tùy thuộc thời điểm nào đến trước.
10. Việc ban hành văn bản hành chính quy định tại điểm c khoản 9 Điều này
phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Mục đích ban hành văn bản hành chính là để kịp thời hướng dẫn giải quyết
các vấn đề phát sinh do tổ chức chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã theo
quy định của Luật này;
b) Nội dung hướng dẫn phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan, người có thẩm quyền hướng dẫn;
c) Không quy định thêm yêu cầu, điều kiện hoặc làm tăng thời gian giải quyết,
phát sinh chi phí, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện;
d) Văn bản hướng dẫn phải được công khai trên Cổng thông tin điện tử hoặc
Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản và các hình thức phù hợp
khác; đồng thời, phải được công khai tập trung trên Cổng thông tin điện tử của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với thông tin của các cơ quan cấp tỉnh, trên Cổng
thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với thông tin của các cơ quan
cấp xã.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV,
Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2025./.