Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 71/2026/NĐ-CP

Điều 54. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính

Căn cứ: Điều 54, 71/2026/NĐ-CP — Nghị định 71/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Tóm tắt

Điều 54 Nghị định 71/2026/NĐ-CP quy định những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, gồm các chức danh tại Điều 46–52, người thuộc Quân đội/Công an/công chức đang thi hành công vụ, công chức thanh tra an toàn bức xạ và hạt nhân. Đối với hành vi không thuộc thẩm quyền hoặc ngoài lĩnh vực, địa bàn quản lý, người có thẩm quyền phải lập biên bản làm việc để ghi nhận và chuyển ngay đến người có thẩm quyền.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chức danh tại Điều 46–52 có thẩm quyền lập biên bản với hành vi được phân định tại Điều 53.
  • ▸Người thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, công chức trong các cơ quan tại Điều 46–52 đang thi hành công vụ có thẩm quyền lập biên bản trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
  • ▸Công chức đang thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân hoặc thanh tra, kiểm tra liên ngành có nội dung này cũng có thẩm quyền.
  • ▸Nếu hành vi không thuộc thẩm quyền hoặc không thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý thì phải lập biên bản làm việc để ghi nhận sự việc.
  • ▸Biên bản làm việc trong trường hợp không thuộc thẩm quyền phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa 'biên bản vi phạm hành chính' và 'biên bản làm việc' khi hành vi không thuộc thẩm quyền.
  • Nghĩ rằng mọi công chức đều có thẩm quyền lập biên bản, trong khi chỉ công chức đang thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân hoặc thanh tra liên ngành có nội dung này mới có thẩm quyền theo khoản 3.

Giải thích

Điều 54 xác định ai được lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trước hết, các chức danh quy định tại Điều 46 đến Điều 52 Nghị định 71/2026/NĐ-CP có thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi được phân định tại Điều 53. Ngoài ra, người thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và công chức trong các cơ quan từ Điều 46 đến Điều 52 khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ cũng có thẩm quyền lập biên bản trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Công chức đang thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân hoặc thanh tra, kiểm tra liên ngành có nội dung về an toàn bức xạ và hạt nhân cũng có thẩm quyền. Đặc biệt, nếu gặp hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền lập biên bản hoặc không thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý của mình, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1, 2, 3 phải lập biên bản làm việc để ghi nhận sự việc và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền.
Nguyên văn Điều 54. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, gồm: 1. Các chức danh quy định tại các điều từ Điều 46 đến Điều 52 Nghị định này có thẩm quyền lập biên bản đối với các hành vi vi phạm được phân định tại Điều 53 Nghị định này; 2. Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, lực lượng Công an nhân dân, công chức trong các cơ quan quy định tại các điều từ Điều 46 đến Điều 52 Nghị định này đang thi hành công vụ, nhiệm vụ có thẩm quyền lập biên bản đối với các hành vi vi phạm thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; 3. Công chức đang thi hành nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về an toàn bức xạ và hạt nhân hoặc thanh tra, kiểm tra liên ngành có nội dung về an toàn bức xạ và hạt nhân; 4. Đối với hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc không thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý của mình, thì người có thẩm quyền đang thi hành công vụ, nhiệm vụ quy định tại các khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này phải lập biên bản làm việc để ghi nhận sự việc và chuyển ngay biên bản đến người có thẩm quyền.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.