Điều 55. Chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh
Căn cứ: Điều 55, 295/2026/NĐ-CP — Nghị định 295/2026/NĐ-CP Về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
Tóm tắt
Điều 55 quy định trình tự, thủ tục chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Nội dung bao gồm nghĩa vụ thuế trước khi chấm dứt, thời hạn nộp hồ sơ, thành phần hồ sơ, xử lý của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã và trường hợp chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài.
Ý chính cần nhớ
- ▸Trước khi thông báo chấm dứt, phải đăng ký với cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ thuế.
- ▸Trong 10 ngày kể từ ngày quyết định chấm dứt, gửi hồ sơ đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã.
- ▸Hồ sơ gồm: thông báo chấm dứt; bản sao/bản chính quyết định của Hội đồng quản trị hoặc nghị quyết Đại hội thành viên (đối với chi nhánh, văn phòng đại diện).
- ▸Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã phối hợp với cơ quan thuế khi chấm dứt chi nhánh, văn phòng đại diện; thời hạn 03 ngày làm việc để chuyển tình trạng nếu thuế xác nhận hoặc không có ý kiến.
- ▸Địa điểm kinh doanh: cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã chuyển tình trạng trong 02 ngày làm việc, không cần ý kiến thuế.
- ▸Chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài: thực hiện theo pháp luật nước sở tại; trong 30 ngày kể từ ngày chấm dứt phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã.
- ▸Quá 06 tháng kể từ ngày thông báo tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt mà không có hồ sơ và không có ý kiến phản đối, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã tự động chấm dứt.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời hạn nộp hồ sơ 10 ngày với thời hạn xử lý 03 ngày hoặc 02 ngày của cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Tưởng rằng mọi trường hợp chấm dứt đều cần ý kiến xác nhận của cơ quan thuế; thực tế địa điểm kinh doanh không cần.
- Nhầm thời hạn 30 ngày đối với chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài với thời hạn 10 ngày trong nước.
Giải thích
Nguyên văn Điều 55. Chấm dứt hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.