Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 135/2025/QH15

Điều 58. Bàn giao công trình xây dựng

Căn cứ: Điều 58, 135/2025/QH15 — Luật Xây dựng số 135/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 58 quy định điều kiện, trách nhiệm và trình tự bàn giao công trình xây dựng; đặc biệt nhấn mạnh việc bàn giao chỉ được thực hiện sau khi đã nghiệm thu theo quy định của Luật Xây dựng. Đối với dự án khu đô thị, việc bàn giao từng phần phải bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế đã phê duyệt. Việc bàn giao phải lập thành biên bản; nhà thầu thi công phải giao cho chủ đầu tư nhiều tài liệu quan trọng trước khi bàn giao.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Bàn giao công trình chỉ sau khi đã nghiệm thu công trình xây dựng theo Luật Xây dựng.
  • ▸Bảo đảm an toàn trong vận hành, khai thác khi đưa công trình vào sử dụng.
  • ▸Với dự án khu đô thị: có thể bàn giao toàn bộ hoặc một số công trình nhưng phải bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế đã phê duyệt; bảo đảm kết nối hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực, phù hợp dự án và quy hoạch đã phê duyệt.
  • ▸Chủ đầu tư tiếp nhận công trình theo đúng hợp đồng xây dựng đã giao kết với nhà thầu; người tham gia bàn giao chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận.
  • ▸Nếu chủ đầu tư không đồng thời là chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình thì phải bàn giao lại cho các chủ thể này sau khi đã tổ chức nghiệm thu; việc bàn giao phải lập biên bản.
  • ▸Trước khi bàn giao, nhà thầu thi công phải giao cho chủ đầu tư bản vẽ hoàn công, quy trình hướng dẫn vận hành, quy trình bảo trì công trình, danh mục thiết bị, phụ tùng, vật tư dự trữ thay thế và tài liệu cần thiết khác.
  • ▸Nếu chưa bàn giao được cho chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng thì chủ đầu tư có trách nhiệm tạm thời quản lý, vận hành công trình.

Lưu ý dễ nhầm

  • Dễ nhầm điều kiện bàn giao chỉ cần “công trình đã thi công xong”; thực tế phải đã thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của Luật Xây dựng.
  • Với dự án khu đô thị, dễ bỏ sót yêu cầu “hoàn thành đầu tư xây dựng bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế xây dựng đã được phê duyệt” trước khi bàn giao.
  • Nhầm người có trách nhiệm giao tài liệu trước khi bàn giao: đó là nhà thầu thi công xây dựng, giao cho chủ đầu tư, không phải chủ đầu tư giao cho nhà thầu.

Giải thích

Điều 58 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 quy định về bàn giao công trình xây dựng. Trước hết, việc bàn giao phải tuân thủ điều kiện: đã thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của Luật này; bảo đảm an toàn trong vận hành, khai thác khi đưa công trình vào sử dụng. Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, có thể bàn giao toàn bộ hoặc một số công trình để đưa vào khai thác, sử dụng, nhưng trước khi bàn giao phải hoàn thành đầu tư xây dựng bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế xây dựng đã được phê duyệt; bảo đảm kết nối với hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực, phù hợp với nội dung dự án và quy hoạch đã được phê duyệt. Về trách nhiệm, chủ đầu tư tiếp nhận công trình theo đúng hợp đồng xây dựng đã giao kết với nhà thầu; người tham gia bàn giao phải chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận. Nếu chủ đầu tư không đồng thời là chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình xây dựng cho chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình sau khi đã tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng. Việc bàn giao phải được lập thành biên bản. Trước khi bàn giao, nhà thầu thi công xây dựng phải giao cho chủ đầu tư các tài liệu: bản vẽ hoàn công, quy trình hướng dẫn vận hành, quy trình bảo trì công trình, danh mục các thiết bị, phụ tùng, vật tư dự trữ thay thế và các tài liệu cần thiết khác có liên quan. Trường hợp chưa bàn giao được công trình cho chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm tạm thời quản lý, vận hành công trình xây dựng. Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, ngoài các quy định trên, chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình khác theo quy định của Chính phủ.
Nguyên văn Điều 58. Bàn giao công trình xây dựng
1. Việc bàn giao công trình xây dựng phải tuân thủ các quy định sau đây: a) Đã thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của Luật này; b) Bảo đảm an toàn trong vận hành, khai thác khi đưa công trình vào khai thác, sử dụng; c) Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, có thể bàn giao toàn bộ hoặc một số công trình thuộc dự án để đưa vào khai thác, sử dụng nhưng trước khi bàn giao phải hoàn thành đầu tư xây dựng bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế xây dựng đã được phê duyệt, bảo đảm kết nối với hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực, phù hợp với nội dung dự án và quy hoạch đã được phê duyệt. 2. Chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận công trình theo đúng hợp đồng xây dựng đã giao kết với nhà thầu. Người tham gia bàn giao công trình phải chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận trong quá trình bàn giao công trình xây dựng. Trường hợp chủ đầu tư không đồng thời là chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình xây dựng cho chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình sau khi đã tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng. Việc bàn giao công trình xây dựng phải được lập thành biên bản. 3. Trước khi bàn giao công trình xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng phải giao cho chủ đầu tư các tài liệu bao gồm bản vẽ hoàn công, quy trình hướng dẫn vận hành, quy trình bảo trì công trình, danh mục các thiết bị, phụ tùng, vật tư dự trữ thay thế và các tài liệu cần thiết khác có liên quan. 4. Trường hợp chưa bàn giao được công trình cho chủ sở hữu, chủ quản lý, sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm tạm thời quản lý, vận hành công trình xây dựng. 5. Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, ngoài quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này, chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình khác theo quy định của Chính phủ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.