Điều 6. Thử nghiệm sản phẩm chưa sẵn có trên thị trường
Căn cứ: Điều 6, 45/2026/NĐ-CP — Nghị định 45/2026/NĐ-CP Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Tóm tắt
Điều 6 quy định về thử nghiệm sản phẩm công nghệ thông tin chưa sẵn có trên thị trường. Cơ quan, tổ chức có thể báo cáo cấp có thẩm quyền để quyết định thực hiện thử nghiệm; tổ chức, cá nhân tham gia thử nghiệm chịu mọi chi phí phát sinh. Cấp có thẩm quyền là người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thuộc, trực thuộc được phân cấp hoặc ủy quyền. Quy trình thử nghiệm gồm tối thiểu 5 bước.
Ý chính cần nhớ
- ▸Áp dụng khi sản phẩm CNTT chưa sẵn có trên thị trường và nếu cần thiết, cơ quan, tổ chức xem xét, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện thử nghiệm.
- ▸Tổ chức, cá nhân nghiên cứu, đề xuất giải pháp, phương án kỹ thuật, công nghệ; xây dựng, thử nghiệm sản phẩm chịu mọi chi phí phát sinh (nếu có).
- ▸Cấp có thẩm quyền: người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức thuộc, trực thuộc được phân cấp hoặc ủy quyền.
- ▸Quy trình thử nghiệm tối thiểu gồm: xác định sản phẩm chưa sẵn có; lựa chọn tổ chức, cá nhân thử nghiệm; nghiên cứu, đề xuất giải pháp; thực hiện thử nghiệm; báo cáo kết quả và kết thúc thử nghiệm.
- ▸Kết thúc hoặc trong quá trình thử nghiệm, khi xác định được giải pháp kỹ thuật, công nghệ, chi phí thì tiến hành thủ tục đầu tư, mua sắm hoặc thuê dịch vụ CNTT theo quy định của Nghị định.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm tưởng nhà nước chịu chi phí thử nghiệm thay vì tổ chức, cá nhân tham gia chịu mọi chi phí phát sinh.
- Bỏ sót bước báo cáo kết quả thử nghiệm và kết thúc thử nghiệm trong quy trình.
- Nhầm cấp có thẩm quyền quyết định thử nghiệm chỉ là người đứng đầu bộ, cơ quan trung ương mà không bao gồm Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người được phân cấp, ủy quyền.
Giải thích
Nguyên văn Điều 6. Thử nghiệm sản phẩm chưa sẵn có trên thị trường
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.