Điều 6. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp kế toán viên chính (hạng II)
Căn cứ: Điều 6, 66/2024/TT-BTC — Thông tư 66/2024/TT-BTC quy định chức danh, mã số, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ chức danh nghề nghiệp chuyên ngành kế toán và xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp từ kế toán viên lên kế toán viên chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
Tóm tắt
Điều 6 quy định tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức nghề nghiệp; trình độ đào tạo, bồi dưỡng đối với chức danh kế toán viên chính (hạng II). So với kế toán viên, yêu cầu cao hơn về nắm vững chủ trương, đường lối, tham gia xây dựng thể chế, quản lý và tổ chức điều hành công tác kế toán.
Ý chính cần nhớ
- ▸Năng lực chuyên môn: nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật; nắm vững quản lý hành chính, cải cách hành chính; hiểu rõ và tuân thủ Luật Kế toán, chuẩn mực kế toán; tham gia xây dựng hoàn thiện thể chế, văn bản quy phạm pháp luật; nắm vững hệ thống kế toán ngành, quy trình tổ chức công tác kế toán; có khả năng quản lý và tổ chức điều hành công tác kế toán; am hiểu thực tiễn sản xuất, kinh doanh, tình hình kinh tế - xã hội; tổ chức triển khai quy trình nghiệp vụ, luân chuyển chứng từ; có kỹ năng CNTT cơ bản và ngoại ngữ (hoặc tiếng dân tộc thiểu số).
- ▸Đạo đức nghề nghiệp: trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp hành pháp luật.
- ▸Trình độ đào tạo: bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành kế toán, kiểm toán, tài chính.
- ▸Bồi dưỡng: có chứng chỉ bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp kế toán hoặc chứng chỉ kiểm toán viên, kế toán viên, chuyên gia kế toán, chứng chỉ kế toán do tổ chức nước ngoài được Bộ Tài chính thừa nhận.
Lưu ý dễ nhầm
- Yêu cầu tham gia xây dựng hoàn thiện thể chế, văn bản quy phạm pháp luật chỉ có ở kế toán viên chính (hạng II), không có ở kế toán viên (hạng III).
- Yêu cầu nắm vững quản lý hành chính, cải cách hành chính và am hiểu thực tiễn sản xuất, kinh doanh là đặc thù của hạng II.
Giải thích
Nguyên văn Điều 6. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp kế toán viên chính (hạng II)
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.