Bài học
105/2016/QH13
Điều 61. Nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc lưu hành trên thị trường
Căn cứ: Điều 61, 105/2016/QH13 — Luật 105/2016/QH13 Luật Dược
Tóm tắt
Điều 61 quy định nội dung bắt buộc trên nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc; tờ hướng dẫn sử dụng là phần không thể tách rời của nhãn và phải bằng tiếng Việt; Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết và có thể quyết định thay đổi hạn dùng vì lý do đặc biệt.
Ý chính cần nhớ
- ▸Nhãn phải thể hiện: tên thuốc/nguyên liệu; dạng bào chế (trừ nguyên liệu); thành phần, hàm lượng, nồng độ hoặc khối lượng; quy cách đóng gói; tên, địa chỉ cơ sở sản xuất; tên, địa chỉ cơ sở nhập khẩu (nếu nhập khẩu); số giấy đăng ký lưu hành hoặc số giấy phép nhập khẩu, số lô, ngày sản xuất; hạn dùng; điều kiện bảo quản và thông tin cần thiết khác.
- ▸Thuốc cổ truyền thuộc Danh mục bí mật Nhà nước và thuốc gia truyền được phép không thể hiện một số thành phần dược liệu, hàm lượng, khối lượng nhưng phải có dòng chữ tương ứng về bí mật.
- ▸Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc là một phần không thể tách rời của nhãn, có đầy đủ thông tin tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 1 và thể hiện bằng tiếng Việt, trừ trường hợp không thể dịch hoặc dịch không có nghĩa.
- ▸Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết việc ghi nhãn, tờ hướng dẫn; quyết định thay đổi hạn dùng vì lý do quốc phòng, an ninh, phòng chống dịch bệnh, khắc phục thiên tai, thảm họa.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm tờ hướng dẫn sử dụng là tài liệu riêng, trong khi là phần không thể tách rời của nhãn.
- Nhầm nhãn nguyên liệu làm thuốc phải có dạng bào chế, trong khi điểm b khoản 1 loại trừ nguyên liệu làm thuốc.
- Nhầm thuốc cổ truyền bí mật được miễn mọi nội dung nhãn, thực tế chỉ được phép không thể hiện một số thành phần dược liệu, hàm lượng, khối lượng và phải có dòng chữ bí mật.
Giải thích
Điều 61 yêu cầu nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc lưu hành trên thị trường phải thể hiện đầy đủ các nội dung tại khoản 1. Đáng chú ý, dạng bào chế không bắt buộc với nguyên liệu làm thuốc; thuốc cổ truyền thuộc Danh mục bí mật Nhà nước và thuốc gia truyền được phép giấu một số thành phần dược liệu, hàm lượng, khối lượng nhưng phải ghi dòng chữ về bí mật nhà nước hoặc bí mật gia truyền. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc không tách rời nhãn, phải có các thông tin a, b, c, d, đ, h, i khoản 1 và bằng tiếng Việt trừ trường hợp bất khả kháng về dịch thuật. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết và có thẩm quyền quyết định thay đổi hạn dùng vì lý do quốc phòng, an ninh, phòng chống dịch bệnh, khắc phục thiên tai, thảm họa.
Nguyên văn Điều 61. Nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc lưu hành trên thị trường
1. Nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc lưu hành trên thị trường phải thể hiện các nội dung sau đây:
a) Tên thuốc, nguyên liệu làm thuốc;
b) Dạng bào chế, trừ nguyên liệu làm thuốc;
c) Thành phần, hàm lượng, nồng độ hoặc khối lượng dược chất, dược liệu của thuốc, nguyên liệu làm thuốc; nhãn của thuốc cổ truyền thuộc Danh mục bí mật của Nhà nước và của thuốc gia truyền được phép không thể hiện một số thành phần dược liệu, hàm lượng, khối lượng dược liệu và phải có dòng chữ “Công thức sản xuất thuốc là bí mật nhà nước” hoặc “Công thức sản xuất thuốc là bí mật gia truyền”;
d) Quy cách đóng gói;
đ) Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất;
e) Tên, địa chỉ của cơ sở nhập khẩu đối với thuốc, nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu;
g) Số giấy đăng ký lưu hành hoặc số giấy phép nhập khẩu, số lô sản xuất, ngày sản xuất;
h) Hạn dùng của thuốc, nguyên liệu làm thuốc;
i) Điều kiện bảo quản và thông tin cần thiết khác theo quy định.
2. Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc là một phần không thể tách rời của nhãn thuốc và có đầy đủ thông tin quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, h và i khoản 1 Điều này và được thể hiện bằng tiếng Việt, trừ trường hợp thông tin không thể dịch ra tiếng Việt hoặc dịch ra tiếng Việt không có nghĩa.
3. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết việc ghi nhãn thuốc, nguyên liệu làm thuốc, tờ hướng dẫn sử dụng thuốc; quyết định việc thay đổi hạn dùng của thuốc đã ghi trên nhãn thuốc trong trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.