Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 19/2023/QH15

Điều 64. Hòa giải viên

Căn cứ: Điều 64, 19/2023/QH15 — Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 64 quy định hòa giải viên trong tranh chấp tiêu dùng gồm hòa giải viên theo pháp luật về hòa giải có liên quan và hòa giải viên thuộc tổ chức tại điểm a, c khoản 1 Điều 63 phải là công dân Việt Nam đáp ứng đủ điều kiện. Nếu tranh chấp có người dân tộc thiểu số, phải có ít nhất 01 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc sử dụng thông thạo tiếng dân tộc đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hòa giải viên theo pháp luật về hòa giải có liên quan.
  • ▸Hòa giải viên thuộc tổ chức tại điểm a và c khoản 1 Điều 63 phải là công dân Việt Nam.
  • ▸Điều kiện: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có uy tín; có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật khác; không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích.
  • ▸Tranh chấp có người dân tộc thiểu số: phải có ít nhất 01 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc sử dụng thông thạo tiếng dân tộc đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
  • ▸Nếu không có hòa giải viên đáp ứng, các bên tự bố trí phiên dịch hoặc đề nghị hòa giải viên bố trí phiên dịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng hòa giải viên bắt buộc phải là công dân Việt Nam trong mọi trường hợp; chỉ hòa giải viên thuộc tổ chức tại điểm a và c khoản 1 Điều 63 mới cần điều kiện này.
  • Nhầm yêu cầu về hòa giải viên dân tộc thiểu số là bắt buộc tuyệt đối; thực tế có thể thỏa thuận khác.

Giải thích

Điều 64 quy định hòa giải viên hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm: hòa giải viên theo quy định của pháp luật về hòa giải có liên quan; và hòa giải viên thuộc tổ chức tại điểm a, c khoản 1 Điều 63 phải là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có uy tín; kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật khác; không đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích. Nếu tranh chấp có người dân tộc thiểu số, phải có ít nhất 01 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc sử dụng thông thạo tiếng dân tộc đó; nếu không có thì các bên tự bố trí phiên dịch hoặc đề nghị hòa giải viên bố trí phiên dịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Nguyên văn Điều 64. Hòa giải viên
Hòa giải viên hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm: 1. Hòa giải viên theo quy định của pháp luật về hòa giải có liên quan; 2. Hòa giải viên thuộc tổ chức quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 63 của Luật này là công dân Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Có phẩm chấ t đạo đức tốt, trung thực, có uy tín; c) Có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật khác có liên quan; d) Không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích. 3. Trường hợp tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh mà có người dân tộc thiểu số thì phải có ít nhất 01 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc là người sử dụng thông thạo tiếng của dân tộc thiểu số đó. Trường hợp không có hòa giải viên đáp ứng yêu cầu tại khoản này thì các bên tham gia hòa giải tự bố trí phiên dịch hoặc đề nghị hòa giải viên bố trí phiên dịch, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.