Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 214/2025/NĐ-CP

Điều 64. Thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu

Căn cứ: Điều 64, 214/2025/NĐ-CP — Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Tóm tắt

Chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu; nếu có yêu cầu thẩm định thì thực hiện theo Điều 135 Nghị định 214/2025/NĐ-CP trước khi phê duyệt. Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu phải bằng văn bản, căn cứ vào tờ trình phê duyệt và báo cáo thẩm định (nếu có).

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thẩm định hồ sơ mời thầu không bắt buộc.
  • ▸Nếu thẩm định, thực hiện theo Điều 135 Nghị định 214/2025/NĐ-CP trước khi phê duyệt.
  • ▸Phê duyệt hồ sơ mời thầu phải bằng văn bản.
  • ▸Căn cứ phê duyệt: tờ trình phê duyệt và báo cáo thẩm định (nếu có).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng thẩm định hồ sơ mời thầu là bắt buộc.
  • Nhầm căn cứ phê duyệt chỉ là tờ trình mà bỏ qua báo cáo thẩm định nếu có.

Giải thích

Điều 64 quy định về thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu. Theo khoản 1, chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu. Tuy nhiên, nếu chủ đầu tư có yêu cầu thẩm định thì phải thực hiện theo Điều 135 của Nghị định 214/2025/NĐ-CP trước khi phê duyệt. Khoản 2 yêu cầu việc phê duyệt hồ sơ mời thầu phải được thực hiện bằng văn bản và căn cứ vào tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu (nếu có). Như vậy, thẩm định là không bắt buộc, nhưng nếu đã thẩm định thì báo cáo thẩm định là một căn cứ để phê duyệt.
Nguyên văn Điều 64. Thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu
1. Chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu; trường hợp có yêu cầu thẩm định thì thực hiện theo quy định tại Điều 135 của Nghị định này trước khi phê duyệt. 2. Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu phải được thực hiện bằng văn bản căn cứ vào tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu (nếu có).

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.