Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 37/2026/NĐ-CP

Điều 66. Bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi đưa ra thị trường trong nước

Căn cứ: Điều 66, 37/2026/NĐ-CP — Nghị định 37/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Tóm tắt

Điều 66 quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất trong việc bảo đảm chất lượng sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. Cụ thể, phải thực hiện yêu cầu quản lý chất lượng theo Luật và các trách nhiệm bổ sung về an toàn, cảnh báo rủi ro, mã số mã vạch. Đối với sản phẩm rủi ro trung bình và cao, phải công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; sản phẩm có đặc tính mới hoặc lần đầu xuất hiện phải chứng minh an toàn theo Điều 67.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện yêu cầu quản lý chất lượng theo Điều 28 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15) trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
  • ▸Trách nhiệm bổ sung: bảo đảm an toàn cho tổ chức, cá nhân, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; tự xác định và thể hiện thông tin cảnh báo rủi ro; tuân thủ quy định về mã số, mã vạch, nhãn điện tử nếu sử dụng.
  • ▸Sản phẩm rủi ro trung bình: công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận hoặc kết quả tự đánh giá trên cơ sở thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm được công nhận hoặc được chỉ định.
  • ▸Sản phẩm rủi ro cao: công bố hợp quy dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được chỉ định.
  • ▸Sản phẩm rủi ro trung bình đang áp dụng biện pháp tự đánh giá nếu phát hiện không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc có khiếu nại, tố cáo thì chuyển sang áp dụng biện pháp của sản phẩm rủi ro cao.
  • ▸Sản phẩm rủi ro trung bình, cao có yêu cầu đặc thù về quá trình sản xuất: bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của quá trình sản xuất hoặc quy định cụ thể; tổ chức, cá nhân phải áp dụng và được chứng nhận hợp quy bởi tổ chức chứng nhận đã được công nhận.
  • ▸Sản phẩm rủi ro trung bình, cao có đặc tính mới hoặc lần đầu xuất hiện tại Việt Nam theo Điều 68: tổ chức, cá nhân chứng minh an toàn theo Điều 67.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa biện pháp áp dụng cho sản phẩm rủi ro trung bình và rủi ro cao: trung bình có thể tự đánh giá, cao bắt buộc chứng nhận bởi tổ chức được chỉ định.
  • Cho rằng mọi sản phẩm đều phải công bố hợp quy, trong khi chỉ sản phẩm rủi ro trung bình và cao mới bắt buộc.
  • Bỏ sót trách nhiệm cảnh báo rủi ro và tuân thủ quy định về mã số, mã vạch, nhãn điện tử.

Giải thích

Điều 66 đặt ra yêu cầu đối với tổ chức, cá nhân sản xuất trước khi đưa sản phẩm ra thị trường trong nước. Trước tiên, họ phải thực hiện quản lý chất lượng theo Điều 28 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (đã sửa đổi, bổ sung). Đồng thời, có ba trách nhiệm cụ thể: bảo đảm an toàn cho con người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; tự xác định và thể hiện thông tin cảnh báo mức độ rủi ro; tuân thủ quy định về mã số, mã vạch, nhãn điện tử nếu có sử dụng. Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, tổ chức, cá nhân phải công bố hợp quy dựa trên chứng nhận hợp quy của tổ chức được công nhận hoặc tự đánh giá dựa trên kết quả thử nghiệm của tổ chức được công nhận hoặc chỉ định. Với sản phẩm rủi ro cao, bắt buộc công bố hợp quy dựa trên chứng nhận của tổ chức được chỉ định. Nếu sản phẩm rủi ro trung bình đang áp dụng tự đánh giá mà phát hiện không phù hợp, ảnh hưởng sức khỏe hoặc có khiếu nại, tố cáo thì chuyển sang áp dụng biện pháp của sản phẩm rủi ro cao. Ngoài ra, sản phẩm có yêu cầu đặc thù về quá trình sản xuất phải áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quá trình sản xuất và được chứng nhận hợp quy. Sản phẩm có đặc tính mới hoặc lần đầu xuất hiện tại Việt Nam phải chứng minh an toàn theo Điều 67.
Nguyên văn Điều 66. Bảo đảm chất lượng sản phẩm trong sản xuất trước khi đưa
ra thị trường trong nước 1. Tổ chức, cá nhân sản xuất phải thực hiện các yêu cầu về quản lý chất lượng sản phẩm theo quy định tại Điều 28 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, được sửa đổi, bổ sung tại khoản 17 Điều 1 Luật số 78/2025/QH15 trước khi đưa sản phẩm ra lưu thông trên thị trường, đồng thời có trách nhiệm: a) Bảo đảm sản phẩm an toàn cho tổ chức, cá nhân, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; b) Tự xác định và thể hiện thông tin để cảnh báo về mức độ rủi ro của sản phẩm; c) Trường hợp sử dụng mã số, mã vạch, nhãn điện tử trên sản phẩm, hàng hóa hoặc bao bì sản phẩm, hàng hóa, phải tuân thủ theo quy định tại Điều 28 và Chương IV Nghị định này. 2. Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao, tổ chức, cá nhân sản xuất phải công bố hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng: a) Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng dựa trên một trong những kết quả sau: Kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được công nhận theo quy định của pháp luật; Kết quả tự đánh giá của tổ chức, cá nhân trên cơ sở kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm được công nhận hoặc được chỉ định theo quy định của pháp luật. b) Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro cao, việc công bố hợp quy được quy định chi tiết tại các quy chuẩn kỹ thuật tương ứng dựa trên kết quả chứng nhận hợp quy của tổ chức chứng nhận được chỉ định theo quy định của pháp luật; Trường hợp sản phẩm sản xuất đang được áp dụng biện pháp quy định tại điểm a khoản này, nếu phát hiện chất lượng không phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, ảnh hưởng đến sức khỏe cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường hoặc khi có khiếu nại, tố cáo về hoạt động sản xuất thì khi đó sản phẩm sản xuất sẽ chuyển sang áp dụng biện pháp quy định tại điểm b khoản này. Đối với sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có yêu cầu đặc thù về quá trình sản xuất thì bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của quá trình sản xuất hoặc quy định cụ thể yêu cầu về quá trình sản xuất trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm đó. Tổ chức, cá nhân sản xuất có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến quá trình sản xuất và được chứng nhận hợp quy bởi tổ chức chứng nhận đã được công nhận theo quy định của pháp luật. 3. Trường hợp sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao có đặc tính mới hoặc sản phẩm lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam theo quy định tại Điều 68 Nghị định này, tổ chức, cá nhân chứng minh sự an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường theo quy định tại Điều 67 Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.