Điều 7. Lập dự toán kinh phí
Căn cứ: Điều 7, 104/2026/NĐ-CP — Nghị định 104/2026/NĐ-CP Quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước
Tóm tắt
Điều 7 quy định hằng năm vào thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước, chủ đầu tư chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng tính toán, đề xuất nhu cầu chi thường xuyên, tổng hợp vào dự toán của mình gửi cơ quan quản lý cấp trên; nội dung dự toán gồm tổng nhu cầu kinh phí và dự toán chi tiết theo nguồn, thể hiện kinh phí bố trí, tình hình thực hiện, lũy kế và dự kiến nhu cầu năm sau.
Ý chính cần nhớ
- ▸Thời điểm lập: hằng năm, vào thời điểm lập dự toán ngân sách nhà nước.
- ▸Căn cứ: hướng dẫn xây dựng dự toán của cấp có thẩm quyền và kinh phí chi thường xuyên đã được cấp có thẩm quyền quyết định.
- ▸Chủ đầu tư chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng để tính toán, đề xuất nhu cầu.
- ▸Chủ đầu tư tổng hợp vào dự toán của cơ quan, đơn vị mình, gửi cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp chung vào dự toán của đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp trình cấp có thẩm quyền.
- ▸Nội dung dự toán gồm: tổng nhu cầu kinh phí thực hiện nhiệm vụ của dự án (hoặc tổng mức đầu tư của dự án thành phần độc lập giải phóng mặt bằng) trong ngân sách năm kế hoạch, chi tiết theo từng nguồn kinh phí.
- ▸Dự toán chi thường xuyên năm sau phải thể hiện: kinh phí bố trí và tình hình thực hiện dự toán năm hiện hành, lũy kế kinh phí đã thực hiện các năm trước (nếu có); dự kiến nhu cầu năm sau.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm chủ đầu tư chỉ phối hợp mà không chủ trì lập dự toán.
- Bỏ sót nội dung dự toán phải thể hiện lũy kế kinh phí đã thực hiện các năm trước (nếu có).
- Nhầm đơn vị gửi dự toán trực tiếp lên cấp có thẩm quyền mà không qua cơ quan quản lý cấp trên và đơn vị dự toán cấp I.
Giải thích
Nguyên văn Điều 7. Lập dự toán kinh phí
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.