Điều 7. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch
Căn cứ: Điều 7, 60/2014/QH13 — Luật 60/2014/QH13 LUẬT HỘ TỊCH
Tóm tắt
Điều 7 phân định thẩm quyền đăng ký hộ tịch cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Cơ quan đại diện. UBND cấp xã đăng ký các sự kiện hộ tịch trong nước không có yếu tố nước ngoài, thay đổi, cải chính cho người chưa đủ 14 tuổi, bổ sung thông tin, một số việc tại khu vực biên giới. UBND cấp huyện đăng ký sự kiện có yếu tố nước ngoài, thay đổi, cải chính cho người từ đủ 14 tuổi trở lên, xác định lại dân tộc. Cơ quan đại diện đăng ký cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.
Ý chính cần nhớ
- ▸UBND cấp xã đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 3 cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.
- ▸UBND cấp xã đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.
- ▸UBND cấp xã thực hiện các việc hộ tịch theo khoản 2 và khoản 4 Điều 3; đăng ký một số việc tại khu vực biên giới theo điểm d khoản 1.
- ▸UBND cấp huyện đăng ký sự kiện hộ tịch quy định tại khoản 1 Điều 3 có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7.
- ▸UBND cấp huyện đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.
- ▸UBND cấp huyện thực hiện các việc hộ tịch theo khoản 3 Điều 3.
- ▸Cơ quan đại diện đăng ký các việc hộ tịch quy định tại Điều 3 cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thẩm quyền theo độ tuổi: thay đổi, cải chính cho người chưa đủ 14 tuổi thuộc UBND cấp xã; từ đủ 14 tuổi trở lên thuộc UBND cấp huyện.
- Cho rằng mọi việc có yếu tố nước ngoài đều thuộc UBND cấp huyện; thực tế điểm d khoản 1 Điều 7 (khu vực biên giới) thuộc UBND cấp xã và được loại trừ khỏi thẩm quyền cấp huyện.
- Bỏ qua thẩm quyền của Cơ quan đại diện đối với công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.
Giải thích
Nguyên văn Điều 7. Thẩm quyền đăng ký hộ tịch
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.