Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 121/2026/NĐ-CP

Điều 7. Tờ trình thành lập

Căn cứ: Điều 7, 121/2026/NĐ-CP — Nghị định 121/2026/NĐ-CP Quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính

Tóm tắt

Điều 7 quy định tờ trình thành lập do cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập xây dựng, phải do người đứng đầu ký, trình cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định. Điều này cũng phân định thẩm quyền đề nghị thành lập theo từng cấp, từng loại tổ chức.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tờ trình thành lập do cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập xây dựng để trình cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định.
  • ▸Nội dung tờ trình gồm: sự cần thiết và cơ sở pháp lý; quá trình xây dựng đề án; nội dung chính của đề án; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề liên quan.
  • ▸Tờ trình phải do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập ký.
  • ▸Cơ quan đề nghị thành lập được phân định: Bộ; Văn phòng, thanh tra, vụ và tổ chức tương đương thuộc bộ; Cục thuộc bộ; UBND cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp tỉnh; UBND cấp xã.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tờ trình do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập xây dựng.
  • Cho rằng người đứng đầu cơ quan đề nghị không cần ký tờ trình.
  • Lẫn lộn thẩm quyền đề nghị thành lập giữa các cấp, các loại tổ chức.

Giải thích

Điều 7 quy định tờ trình thành lập do chính cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập xây dựng để trình cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập. Tờ trình gồm 4 nội dung: sự cần thiết và cơ sở pháp lý; quá trình xây dựng đề án; nội dung chính của đề án; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề liên quan. Tờ trình phải do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập ký. Điều 7 còn phân định cơ quan đề nghị thành lập theo từng nhóm tổ chức: Bộ đề nghị thành lập tổ chức tại điểm a khoản 1 Điều 2; Văn phòng, thanh tra, vụ và tổ chức tương đương thuộc bộ đề nghị thành lập tổ chức tại điểm b khoản 1 Điều 2; Cục thuộc bộ đề nghị thành lập tổ chức tại các điểm c, d, đ, e khoản 1 Điều 2; UBND cấp tỉnh đề nghị thành lập tổ chức tại điểm a, điểm d khoản 2 Điều 2; cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh đề nghị thành lập tổ chức tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 2; tổ chức hành chính khác thuộc UBND cấp tỉnh đề nghị thành lập tổ chức tại điểm d, điểm e khoản 2 Điều 2; UBND cấp xã đề nghị thành lập tổ chức tại khoản 3 Điều 2.
Nguyên văn Điều 7. Tờ trình thành lập
1. Tờ trình thành lập tổ chức hành chính do cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập xây dựng để trình cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập. 2. Nội dung tờ trình, gồm: a) Sự cần thiết và cơ sở pháp lý; b) Quá trình xây dựng đề án; c) Nội dung chính của đề án; d) Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề liên quan. 3. Tờ trình thành lập phải do người đứng đầu cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập ký, trình cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định thành lập. 4. Cơ quan, tổ chức đề nghị thành lập đối với các tổ chức hành chính như sau: a) Bộ đề nghị thành lập các tổ chức quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định này; b) Văn phòng (nếu có), thanh tra (nếu có), vụ và tổ chức tương đương thuộc bộ đề nghị thành lập tổ chức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định này; c) Cục thuộc bộ đề nghị thành lập các tổ chức quy định tại điểm c, điểm d, điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 2 Nghị định này; d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị thành lập tổ chức quy định tại điểm a, điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị định này; đ) Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị thành lập các tổ chức quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 2 Nghị định này; e) Tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị thành lập tổ chức quy định tại điểm d, điểm e khoản 2 Điều 2 Nghị định này; g) Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị thành lập các tổ chức quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.