Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 135/2025/QH15

Điều 80. Quy định chung về hợp đồng xây dựng

Căn cứ: Điều 80, 135/2025/QH15 — Luật Xây dựng số 135/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 80 quy định khái niệm hợp đồng xây dựng, nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng, đặc biệt đối với dự án đầu tư công, dự án PPP. Điều luật cũng quy định ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng là tiếng Việt, trường hợp có bên nước ngoài thì dùng tiếng Việt và ngôn ngữ khác do các bên thỏa thuận, thứ tự ưu tiên do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì tiếng Việt được ưu tiên.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự để thực hiện các công việc trong hoạt động xây dựng.
  • ▸Giao kết và thực hiện hợp đồng xây dựng phải phù hợp với Luật Xây dựng, pháp luật về dân sự và quy định khác có liên quan.
  • ▸Đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, khi giao kết hợp đồng xây dựng còn phải đáp ứng: bảo đảm đủ nguồn lực thực hiện nghĩa vụ; đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu và kết thúc đàm phán (nếu có); nếu bên nhận thầu là liên danh thì phải có thỏa thuận liên danh, việc giao kết do tất cả thành viên liên danh thực hiện trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • ▸Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng là tiếng Việt; nếu có bên nước ngoài thì dùng tiếng Việt và ngôn ngữ khác do các bên thỏa thuận.
  • ▸Thứ tự ưu tiên các ngôn ngữ trong hợp đồng xây dựng do các bên thỏa thuận; trường hợp không có thỏa thuận thì tiếng Việt được ưu tiên.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng mọi hợp đồng xây dựng đều bắt buộc phải có thỏa thuận liên danh; chỉ khi bên nhận thầu là liên danh nhà thầu mới cần thỏa thuận liên danh.
  • Nhầm tưởng ngôn ngữ khác luôn được ưu tiên hơn tiếng Việt; thực tế nếu không thỏa thuận thì tiếng Việt được ưu tiên.

Giải thích

Điều 80 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 quy định chung về hợp đồng xây dựng. Hợp đồng xây dựng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự để thực hiện các công việc trong hoạt động xây dựng. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng phải phù hợp với Luật Xây dựng, pháp luật dân sự và quy định khác. Đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, còn phải đáp ứng các nguyên tắc: bảo đảm đủ nguồn lực; đã hoàn thành lựa chọn nhà thầu và kết thúc đàm phán (nếu có); nếu là liên danh nhà thầu thì phải có thỏa thuận liên danh và việc giao kết phải do tất cả thành viên liên danh thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Về ngôn ngữ, hợp đồng xây dựng sử dụng tiếng Việt; nếu có bên nước ngoài thì sử dụng tiếng Việt và ngôn ngữ khác do các bên thỏa thuận. Thứ tự ưu tiên do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì tiếng Việt được ưu tiên.
Nguyên văn Điều 80. Quy định chung về hợp đồng xây dựng
1. Hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự để thực hiện các công việc trong hoạt động xây dựng. 2. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng xây dựng phải phù hợp với quy định của Luật này, quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan. Ngoài ra, đối với các dự án đầu tư công, dự án PPP, khi giao kết hợp đồng xây dựng các bên còn phải đáp ứng các nguyên tắc sau đây: a) Bảo đảm có đủ nguồn lực để thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng xây dựng; b) Đã hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu và kết thúc quá trình đàm phán hợp đồng xây dựng (nếu có); c) Trường hợp bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thỏa thuận liên danh. Việc giao kết hợp đồng xây dựng phải được thực hiện bởi tất cả các thành viên liên danh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. 3. Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng là tiếng Việt. Trường hợp hợp đồng xây dựng có sự tham gia của bên nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và ngôn ngữ khác do các bên thỏa thuận. Thứ tự ưu tiên các ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng xây dựng do các bên thỏa thuận, trường hợp các bên không có thỏa thuận thì tiếng Việt được ưu tiên.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.