Điều 81. Hiệu lực và tính pháp lý của hợp đồng xây dựng
Căn cứ: Điều 81, 135/2025/QH15 — Luật Xây dựng số 135/2025/QH15
Tóm tắt
Điều 81 quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng xây dựng, tính pháp lý của hợp đồng có hiệu lực, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan liên quan trong việc tôn trọng hợp đồng. Điều luật cũng xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng được giao kết hợp pháp.
Ý chính cần nhớ
- ▸Hợp đồng xây dựng có hiệu lực khi đáp ứng đủ điều kiện theo pháp luật dân sự về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các bên phải có đủ điều kiện, năng lực theo Luật Xây dựng.
- ▸Hợp đồng xây dựng có hiệu lực là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện, giải quyết tranh chấp; tranh chấp chưa được thỏa thuận trong hợp đồng được giải quyết trên cơ sở Luật Xây dựng, pháp luật dân sự và quy định khác.
- ▸Cơ quan quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tổ chức thanh toán, cho vay vốn và các cơ quan có liên quan khác phải tôn trọng hợp đồng xây dựng được giao kết hợp pháp và có hiệu lực; không được xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng.
- ▸Hợp đồng xây dựng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết hoặc thời điểm khác do các bên thỏa thuận; trường hợp hợp đồng được công chứng thì thời điểm có hiệu lực theo quy định của pháp luật về công chứng.
- ▸Từ thời điểm hợp đồng xây dựng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết; hợp đồng có thể bị sửa đổi hoặc chấm dứt theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Lưu ý dễ nhầm
- Cho rằng hợp đồng xây dựng luôn có hiệu lực từ thời điểm giao kết; thực tế có thể từ thời điểm khác do các bên thỏa thuận, và nếu công chứng thì theo quy định về công chứng.
- Nhầm tưởng cơ quan nhà nước có thể tự ý thay đổi hợp đồng; Điều 81 yêu cầu tôn trọng hợp đồng được giao kết hợp pháp và có hiệu lực, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.
Giải thích
Nguyên văn Điều 81. Hiệu lực và tính pháp lý của hợp đồng xây dựng
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.