Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 37/2026/NĐ-CP

Điều 82. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu

Căn cứ: Điều 82, 37/2026/NĐ-CP — Nghị định 37/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Tóm tắt

Điều 82 Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo mức độ rủi ro: hàng hóa rủi ro trung bình không phải kiểm tra nhập khẩu nhưng phải công bố hợp quy; hàng hóa rủi ro cao phải đăng ký kiểm tra; trường hợp đã có giấy phép lưu hành hoặc biện pháp quản lý tương ứng thì áp dụng pháp luật chuyên ngành.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hàng hóa rủi ro trung bình: không kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu, nhưng phải công bố hợp quy hoặc thực hiện biện pháp quản lý chất lượng theo luật khác.
  • ▸Việc công bố hợp quy thực hiện theo pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.
  • ▸Hàng hóa rủi ro cao: bắt buộc đăng ký kiểm tra chất lượng theo Điều 83 Nghị định 37/2026/NĐ-CP.
  • ▸Hàng hóa rủi ro trung bình hoặc cao đã có giấy phép lưu hành hoặc đã thực hiện biện pháp quản lý chất lượng tương ứng: không kiểm tra theo Điều 82 mà theo pháp luật chuyên ngành.
  • ▸Nguyên tắc công bố hợp quy đối với hàng hóa rủi ro trung bình dựa trên khoản 2 Điều 48 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 70/2025/QH15.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa hàng hóa rủi ro trung bình (không kiểm tra nhập khẩu nhưng phải công bố hợp quy) và hàng hóa rủi ro cao (phải đăng ký kiểm tra).
  • Cho rằng mọi hàng hóa nhập khẩu đều phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu.
  • Bỏ qua trường hợp ngoại lệ: đã có giấy phép lưu hành hoặc biện pháp quản lý tương ứng thì áp dụng pháp luật chuyên ngành.

Giải thích

Điều 82 Nghị định 37/2026/NĐ-CP phân loại hàng hóa nhập khẩu theo mức độ rủi ro để xác định thủ tục kiểm tra chất lượng. Với hàng hóa rủi ro trung bình, tổ chức, cá nhân nhập khẩu không phải kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu, nhưng trước khi đưa ra thị trường phải công bố hợp quy phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc thực hiện biện pháp quản lý chất lượng theo luật khác, theo nguyên tắc tại khoản 2 Điều 48 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi, bổ sung). Với hàng hóa rủi ro cao, bắt buộc đăng ký kiểm tra chất lượng theo Điều 83 Nghị định này. Trường hợp hàng hóa rủi ro trung bình hoặc cao đã được cấp giấy phép lưu hành hoặc đã thực hiện biện pháp quản lý chất lượng tương ứng theo pháp luật chuyên ngành thì không cần kiểm tra theo Điều 82 mà thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Nguyên văn Điều 82. Kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu
1. Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường, tổ chức, cá nhân nhập khẩu không phải thực hiện kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu nhưng phải thực hiện công bố hợp quy phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng hoặc thực hiện biện pháp quản lý chất lượng được quy định tại luật khác có liên quan theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được sửa đổi, bổ sung tại khoản 19 Điều 1 Luật số 70/2025/QH15. Việc công bố hợp quy thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. 2. Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện đăng ký kiểm tra chất lượng theo quy định tại Điều 83 Nghị định này. 3. Đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao đã được cấp giấy phép lưu hành hoặc đã thực hiện một biện pháp quản lý chất lượng tương ứng nêu trong danh mục theo quy định của pháp luật chuyên ngành, thì không cần thực hiện việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.