Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 5/2007/QH12

Điều 9. Quyền của người sản xuất

Căn cứ: Điều 9, 5/2007/QH12 — Luật 05/2007/QH12 LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ

Tóm tắt

Điều 9 Luật 05/2007/QH12 quy định 7 nhóm quyền của người sản xuất, bao gồm quyền quyết định và công bố mức chất lượng, kiểm soát nội bộ, lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp, sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, yêu cầu người bán hàng hợp tác thu hồi hàng hoá không bảo đảm chất lượng, khiếu nại kết luận kiểm tra và được bồi thường thiệt hại.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Quyết định và công bố mức chất lượng sản phẩm do mình sản xuất, cung cấp.
  • ▸Quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ để bảo đảm chất lượng sản phẩm.
  • ▸Lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng; trường hợp chứng nhận hợp quy, kiểm tra chất lượng theo yêu cầu quản lý nhà nước thì phải lựa chọn tổ chức được chỉ định.
  • ▸Sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các dấu hiệu khác cho sản phẩm theo quy định của pháp luật.
  • ▸Yêu cầu người bán hàng hợp tác trong việc thu hồi và xử lý hàng hoá không bảo đảm chất lượng.
  • ▸Khiếu nại kết luận của đoàn kiểm tra, quyết định của cơ quan kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
  • ▸Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa quyền và nghĩa vụ của người sản xuất; Điều 9 quy định quyền, Điều 10 quy định nghĩa vụ.
  • Quyền lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp không áp dụng cho trường hợp chứng nhận hợp quy, kiểm tra chất lượng theo yêu cầu quản lý nhà nước; khi đó phải chọn tổ chức được chỉ định.
  • Quyền khiếu nại chỉ áp dụng đối với kết luận của đoàn kiểm tra, quyết định của cơ quan kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

Giải thích

Điều 9 Luật 05/2007/QH12 quy định các quyền của người sản xuất nhằm bảo đảm tính chủ động và trách nhiệm trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Người sản xuất có quyền quyết định và công bố mức chất lượng sản phẩm do mình sản xuất, cung cấp; quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ để bảo đảm chất lượng sản phẩm. Họ được lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hoá; tuy nhiên, khi chứng nhận hợp quy hoặc kiểm tra chất lượng theo yêu cầu quản lý nhà nước thì phải lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định. Người sản xuất được sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các dấu hiệu khác cho sản phẩm theo quy định; được yêu cầu người bán hàng hợp tác trong việc thu hồi và xử lý hàng hoá không bảo đảm chất lượng; được khiếu nại kết luận của đoàn kiểm tra, quyết định của cơ quan kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; và được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc phân biệt rõ quyền giúp người sản xuất thực hiện đúng và đầy đủ.
Nguyên văn Điều 9. Quyền của người sản xuất
1. Quyết định và công bố mức chất lượng sản phẩm do mình sản xuất, cung cấp. 2. Quyết định các biện pháp kiểm soát nội bộ để bảo đảm chất lượng sản phẩm. 3. Lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp để thử nghiệm, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trường hợp chứng nhận hợp quy, kiểm tra chất lượng sản phẩm theo yêu cầu quản lý nhà nước thì người sản xuất lựa chọn tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định. 4. Sử dụng dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các dấu hiệu khác cho sản phẩm theo quy định của pháp luật. 5. Yêu cầu người bán hàng hợp tác trong việc thu hồi và xử lý hàng hóa không bảo đảm chất lượng. 6. Khiếu nại kết luận của đoàn kiểm tra, quyết định của cơ quan kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. 7. Được bồi thường thiệt hại theo quy định tại Mục 2 Chương V của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.