Nguyên văn Điều P3. Phần 3
2. Về xác định nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế
(1) Áp dụng phương pháp phù hợp với tính chất từng công việc để xác định nhu cầu nhân lực từ nhiệm vụ, sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết. Đối với công việc tham mưu, nghiên cứu, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan lãnh đạo, phải tính đến yếu tố đặc thù như tiến độ, trách nhiệm đối với sản phẩm, nhiệm vụ đột xuất, công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn; không áp dụng cơ học định mức giải quyết hồ sơ hành chính.
Không đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.
(2) Xem xét đồng bộ tác động của 4 nhóm yếu tố: Địa giới hành chính; quy mô, trình độ phát triển; mức độ phân cấp, phân quyền; khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự chủ và xã hội hoá. Chú trọng đặc điểm của 4 nhóm địa bàn (đô thị đặc biệt, đô thị, đồng bằng, miền núi) và điều kiện đặc thù của từng địa phương; không bình quân, cào bằng hoặc áp dụng máy móc theo vùng.
(3) Đối chiếu nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu, chuyên môn, năng lực, phân bổ và nguồn kinh phí; xác định đúng nơi thừa, nơi thiếu, nơi bố trí chưa phù hợp. Không lấy chênh lệch số người hoặc biên chế hiện có làm căn cứ duy nhất để đề xuất điều chỉnh.
(4) Ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp với chức danh, năng lực, thẩm quyền và điều kiện thực hiện nhiệm vụ; bảo đảm tính khách quan, liên tục và kịp thời; trường hợp đề xuất tăng biên chế phải có căn cứ kiểm chứng, đúng thẩm quyền và bảo đảm kiểm soát tổng biên chế.
(5) Quản lý chặt chẽ tổng biên chế được giao; định kỳ rà soát, điều chỉnh trên cơ sở nhiệm vụ, nhu cầu nhân lực và kết quả sử dụng biên chế. Ưu tiên thu hồi, điều chuyển biên chế từ nơi giảm nhiệm vụ, sử dụng chưa hiệu quả sang nơi thực sự cần thiết; gắn tuyển dụng, bố trí, điều chuyển, tinh giản biên chế với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ.
IV- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
1. Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, cập nhật vị trí việc làm theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và mô hình tổ chức mới; xác định rõ công việc, sản phẩm đầu ra, khối lượng, mức độ phức tạp, trách nhiệm và yêu cầu năng lực của từng vị trí; phân định rõ nhiệm vụ, công việc, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sau sắp xếp, phân cấp, phân quyền, nhất là cấp xã và giữa cơ quan giao với cơ quan nhận nhiệm vụ. Kế thừa kết quả đã có, tập trung bổ sung, kiểm chứng nội dung thiếu hoặc thay đổi thực chất; không để việc rà soát trở thành căn cứ hợp thức hoá hoặc phát sinh biên chế không cần thiết.
2. Thống nhất phương pháp phân tích nhiệm vụ, xác định công việc, sản phẩm, trách nhiệm và nhu cầu nhân lực; vận dụng phù hợp với đặc thù từng khối, ngành, lĩnh vực và nhóm địa bàn. Rà soát, đề xuất giữ nguyên, điều chỉnh, tích hợp, bãi bỏ nhiệm vụ hoặc bổ sung vị trí việc làm theo thẩm quyền.
Các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có căn cứ kiểm chứng; không áp dụng máy móc một công thức, định mức hoặc tỉ lệ chung. Tiếp tục hoàn thiện phương pháp, định mức, tiêu chuẩn phục vụ cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình.
3. Hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất trong hệ thống chính trị trong năm 2026; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được kiểm tra, xác nhận, có khả năng kết nối, khai thác và cập nhật, phục vụ trực tiếp công tác cán bộ và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027 - 2031. Kế thừa tối đa dữ liệu đã được xác nhận, không yêu cầu kê khai lại. Việc thu thập, kết nối, khai thác dữ liệu phải đúng thẩm quyền, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác và thông tin cá nhân theo quy định.