Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 295/2026/NĐ-CP

Điều 11. Số lượng hồ sơ và ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Căn cứ: Điều 11, 295/2026/NĐ-CP — Nghị định 295/2026/NĐ-CP Về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Tóm tắt

Điều 11 quy định người thành lập hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chỉ nộp 01 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký; cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã không được yêu cầu thêm hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định. Điều luật cũng quy định ngôn ngữ trong hồ sơ là tiếng Việt, trường hợp có tài liệu tiếng nước ngoài phải có bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch; nếu hồ sơ lập bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người thành lập hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp 01 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký.
  • ▸Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã không được yêu cầu nộp thêm hồ sơ hoặc giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký theo quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này.
  • ▸Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký được lập bằng tiếng Việt.
  • ▸Tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải có bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch kèm theo tài liệu bằng tiếng nước ngoài.
  • ▸Trường hợp giấy tờ, tài liệu được lập bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đăng ký.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm rằng cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã có thể yêu cầu thêm giấy tờ ngoài quy định.
  • Nhầm rằng bản dịch tiếng Việt không cần chứng thực chữ ký người dịch.
  • Nhầm rằng khi hồ sơ có cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng nước ngoài được sử dụng để thực hiện thủ tục.

Giải thích

Điều 11 Nghị định 295/2026/NĐ-CP quy định hai nhóm nội dung chính. Thứ nhất, về số lượng hồ sơ: người thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc chính tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chỉ nộp 01 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã không được yêu cầu nộp thêm hồ sơ hoặc giấy tờ khác ngoài các giấy tờ đã được quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này. Thứ hai, về ngôn ngữ: giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ được lập bằng tiếng Việt; nếu có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải có bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch kèm theo tài liệu gốc; nếu giấy tờ, tài liệu được lập bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đăng ký.
Nguyên văn Điều 11. Số lượng hồ sơ và ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
1. Người thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp 01 bộ hồ sơ khi thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. 2. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã không được yêu cầu người thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thêm hồ sơ hoặc giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này. 3. Ngôn ngữ sử dụng trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã: a) Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được lập bằng tiếng Việt; b) Trường hợp hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì hồ sơ phải có bản dịch tiếng Việt được chứng thực chữ ký người dịch kèm theo tài liệu bằng tiếng nước ngoài; c) Trường hợp giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được lập bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài thì bản tiếng Việt được sử dụng để thực hiện thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.