Bài học
23/2025/NĐ-CP
Điều 13. Chứng thư chữ ký số của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
Căn cứ: Điều 13, 23/2025/NĐ-CP — Nghị định 23/2025/NĐ-CP quy định về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy
Tóm tắt
Điều 13 quy định quyền được cấp, phát hành chứng thư chữ ký số cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; chứng thư cấp cho người có thẩm quyền phải nêu rõ chức danh và tên cơ quan, tổ chức.
Ý chính cần nhớ
- ▸Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được thành lập và hoạt động hợp pháp đều có quyền được cấp, phát hành chứng thư chữ ký số.
- ▸Chứng thư chữ ký số cấp cho người có thẩm quyền phải nêu rõ chức danh của người đó.
- ▸Chứng thư chữ ký số cấp cho người có thẩm quyền phải nêu rõ tên cơ quan, tổ chức của người đó.
Lưu ý dễ nhầm
- Cho rằng chỉ một số cơ quan đặc biệt mới được cấp chứng thư; thực tế tất cả cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền hợp pháp đều có quyền.
Giải thích
Điều 13 gồm hai nội dung chính. Thứ nhất, tất cả cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức theo quy định pháp luật được thành lập và hoạt động hợp pháp đều có quyền được cấp, phát hành chứng thư chữ ký số. Thứ hai, chứng thư chữ ký số cấp cho người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức phải nêu rõ chức danh và tên cơ quan, tổ chức của người đó. Khi làm bài, cần lưu ý: quyền được cấp phát hành chứng thư không phụ thuộc loại hình cơ quan, miễn là được thành lập và hoạt động hợp pháp. Đồng thời, chứng thư cấp cho người có thẩm quyền bắt buộc thể hiện chức danh và tên cơ quan, tổ chức; thiếu một trong hai nội dung này là không đúng quy định.
Nguyên văn Điều 13. Chứng thư chữ ký số của cơ quan, tổ chức và người có thẩm
quyền của cơ quan, tổ chức
1. Tất cả các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức theo
quy định của pháp luật được thành lập và hoạt động hợp pháp đều có quyền được
cấp, phát hành chứng thư chữ ký số.
2. Chứng thư chữ ký số cấp cho người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
phải nêu rõ chức danh và tên cơ quan, tổ chức của người đó.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.