Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 295/2026/NĐ-CP

Điều 13. Ghi ngành, nghề kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Căn cứ: Điều 13, 295/2026/NĐ-CP — Nghị định 295/2026/NĐ-CP Về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Tóm tắt

Điều 13 quy định cách ghi ngành, nghề kinh doanh khi đăng ký thành lập hoặc thay đổi ngành, nghề của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Nguyên tắc chung là chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam; trường hợp đặc biệt ghi theo văn bản pháp luật chuyên ngành hoặc được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét ghi nhận.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người thành lập hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam để ghi ngành, nghề kinh doanh.
  • ▸Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã hướng dẫn, đối chiếu và ghi nhận ngành, nghề vào Cơ sở dữ liệu về đăng ký hợp tác xã.
  • ▸Nội dung ngành kinh tế cấp bốn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
  • ▸Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì ghi theo văn bản quy phạm pháp luật quy định ngành, nghề đó.
  • ▸Ngành, nghề không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhưng có trong văn bản pháp luật khác thì ghi theo văn bản đó.
  • ▸Ngành, nghề không có trong Hệ thống và chưa được quy định trong văn bản khác: cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét ghi nhận nếu không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Tài chính để bổ sung.
  • ▸Nếu muốn ghi chi tiết hơn ngành kinh tế cấp bốn: chọn một ngành cấp bốn, ghi chi tiết ngay dưới và phải phù hợp với ngành cấp bốn đã chọn; khi đó ngành, nghề kinh doanh là ngành chi tiết.
  • ▸Chi nhánh, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã ghi ngành, nghề theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng mọi trường hợp đều bắt buộc chỉ ghi ngành kinh tế cấp bốn; thực tế có thể ghi chi tiết hơn nếu đáp ứng điều kiện tại khoản 6.
  • Nhầm lẫn giữa ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và ngành, nghề không có trong Hệ thống; mỗi loại có cách ghi khác nhau.
  • Cho rằng cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã tự ý ghi nhận mọi ngành, nghề không có trong Hệ thống; thực tế phải không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.

Giải thích

Điều 13 hướng dẫn cách ghi ngành, nghề kinh doanh cho tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Về cơ bản, khi đăng ký thành lập, thay đổi ngành nghề hoặc đề nghị cấp giấy chứng nhận, người thành lập hoặc chính tổ chức đó chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn, đối chiếu và ghi nhận vào Cơ sở dữ liệu. Với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hoặc không có trong Hệ thống nhưng có trong văn bản pháp luật khác, ghi theo văn bản chuyên ngành. Với ngành, nghề không có trong Hệ thống và chưa được quy định, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét ghi nhận nếu không bị cấm, đồng thời báo Bộ Tài chính bổ sung. Nếu muốn ghi chi tiết hơn, phải chọn ngành cấp bốn và ghi chi tiết phù hợp ngay dưới. Quy định này cũng áp dụng cho chi nhánh, địa điểm kinh doanh.
Nguyên văn Điều 13. Ghi ngành, nghề kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
1. Khi đăng ký thành lập hoặc thông báo thay đổi ngành, nghề kinh doanh hoặc khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã theo quy định tại Nghị định này, người thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã lựa chọn ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam để ghi ngành, nghề kinh doanh trong hồ sơ đăng ký. Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã hướng dẫn, đối chiếu và ghi nhận ngành, nghề kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã vào Cơ sở dữ liệu về đăng ký hợp tác xã. 2. Nội dung cụ thể của ngành kinh tế cấp bốn quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam. 3. Đối với những ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó. 4. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhưng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó. 5. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xem xét ghi nhận ngành, nghề kinh doanh này vào Cơ sở dữ liệu về đăng ký hợp tác xã nếu không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Tài chính để bổ sung ngành, nghề kinh doanh mới. 6. Trường hợp tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có nhu cầu ghi ngành, nghề kinh doanh chi tiết hơn ngành kinh tế cấp bốn thì lựa chọn một ngành kinh tế cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, sau đó ghi chi tiết ngành, nghề kinh doanh ngay dưới ngành kinh tế cấp bốn nhưng phải bảo đảm ngành, nghề kinh doanh chi tiết của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với ngành kinh tế cấp bốn đã chọn. Trong trường hợp này, ngành, nghề kinh doanh của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là ngành, nghề kinh doanh chi tiết đã ghi. 7. Việc ghi ngành, nghề kinh doanh quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này thực hiện theo quy định tại khoản 6 Điều này, trong đó, ngành, nghề kinh doanh chi tiết được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. 8. Việc ghi ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.