Nguyên văn Điều 16. Đánh giá trong kỳ, cấp tiếp kinh phí, điều chỉnh hợp đồng giao
nhiệm vụ và chấm dứt thực hiện nhiệm vụ
1. Thời điểm đánh giá
Việc đánh giá được thực hiện theo định kỳ tối thiểu 01 lần/năm hoặc theo các
mốc tiến độ, kết quả đầu ra quy định trong hợp đồng giao nhiệm vụ. Trong một số
trường hợp theo yêu cầu quản lý và biện pháp quản trị rủi ro, cơ quan quản lý
nhiệm vụ tiến hành đánh giá đột xuất đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo. Kết quả đánh giá là căn cứ để cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét:
a) Cấp tiếp kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo;
b) Điều chỉnh hợp đồng giao nhiệm vụ hoặc chấm dứt thực hiện nhiệm vụ.
2. Phương thức đánh giá
a) Việc đánh giá nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực
hiện theo phương thức trực tiếp, phương thức trực tuyến hoặc kết hợp hai phương
thức trên;
b) Cơ quan quản lý nhiệm vụ có thể thành lập đoàn đánh giá gồm đại diện cơ
quan quản lý nhiệm vụ, đại diện các cơ quan có liên quan và các thành phần khác
để tiến hành đánh giá hoặc giao cho đơn vị chuyên môn trực thuộc tiến hành đánh
giá. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý nhiệm vụ có thể thuê tổ chức tư
vấn độc lập hoặc chuyên gia tư vấn độc lập đánh giá nhiệm vụ.
3. Nội dung đánh giá
a) Tình hình thực hiện các nội dung chuyên môn và kết quả đạt được so với
mục tiêu, tiến độ trong hợp đồng giao nhiệm vụ;
b) Tình hình sử dụng kinh phí và tiến độ giải ngân kinh phí phù hợp với nội
dung, công việc và kết quả đạt được;
c) Việc thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan trong quá trình
triển khai;
d) Khó khăn, vướng mắc, các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai và đề
xuất điều chỉnh (nếu có);
đ) Đề xuất, kiến nghị của tổ chức chủ trì và ý kiến đánh giá của cơ quan quản lý
nhiệm vụ về việc tiếp tục thực hiện, điều chỉnh, hoặc chấm dứt thực hiện nhiệm vụ.
4. Tổ chức chủ trì chuẩn bị báo cáo tiến độ thực hiện và tình hình sử dụng kinh
phí của nhiệm vụ và các tài liệu khác có liên quan gửi cơ quan quản lý nhiệm vụ để
phục vụ đánh giá trong kỳ. Kết quả đánh giá trong kỳ được lập thành biên bản, có
xác nhận của đại diện cơ quan quản lý nhiệm vụ và đại diện tổ chức chủ trì nhiệm
vụ làm cơ sở pháp lý cho các bước xử lý tiếp theo.
Đối với các nhiệm vụ có sản phẩm có thể thương mại hóa trong thời gian sản
xuất thử nghiệm bao gồm cả sản xuất thử nghiệm có kiểm soát, cần nêu rõ số
lượng sản phẩm và mức chất lượng đạt được so với hợp đồng.
Đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ
hợp tác quốc tế: cần có báo cáo tình hình hợp tác quốc tế trong quá trình triển khai
thực hiện nhiệm vụ.
5. Căn cứ biên bản đánh giá trong kỳ, cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét cấp
tiếp kinh phí cho tổ chức chủ trì trên cơ sở:
a) Tiến độ triển khai phù hợp với nội dung công việc;
b) Tình hình sử dụng kinh phí và tiến độ giải ngân kinh phí hiệu quả, đúng
mục đích, phù hợp với nội dung công việc và kết quả đạt được;
c) Thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan trong quá trình triển khai;
d) Cập nhật tình hình thực hiện nội dung, công việc, sử dụng nguyên vật liệu
theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều này;
đ) Trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý có thể yêu cầu tổ chức chủ trì gửi báo
cáo giải trình bổ sung trước khi thực hiện cấp kinh phí đợt tiếp theo.
6. Điều chỉnh hợp đồng giao nhiệm vụ
a) Cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét điều chỉnh hợp đồng giao nhiệm vụ đối
với các nội dung sau: mục tiêu, nội dung, kết quả cuối cùng, thời gian thực hiện
nhiệm vụ; tổng kinh phí được phê duyệt; quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến kết
quả thực hiện nhiệm vụ; thay đổi tên gọi hoặc tư cách pháp nhân của tổ chức chủ
trì do sáp nhập, chia tách, đổi tên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Trình tự thực hiện điều chỉnh hợp đồng giao nhiệm vụ: tổ chức chủ trì gửi
văn bản đề xuất điều chỉnh kèm theo hồ sơ liên quan đến cơ quan quản lý nhiệm
vụ. Trường hợp cần thiết, cơ quan quản lý nhiệm vụ gửi văn bản đề nghị bổ sung
tài liệu minh chứng có liên quan đến các nội dung điều chỉnh.
Cơ quan quản lý nhiệm vụ xem xét hồ sơ, trường hợp cần thiết có thể tham
vấn chuyên gia, tổ chức hội đồng tư vấn hoặc lấy ý kiến bằng văn bản của các
bên liên quan;
c) Việc điều chỉnh được thực hiện tối đa 15 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý
nhiệm vụ nhận được văn bản đề xuất điều chỉnh và được thể hiện bằng văn bản sửa
đổi, bổ sung hợp đồng giao nhiệm vụ hoặc bằng quyết định phê duyệt nội dung
điều chỉnh, làm cơ sở để tiếp tục triển khai nhiệm vụ theo nội dung điều chỉnh đã
được chấp thuận;
d) Đối với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ
hợp tác quốc tế: các điều chỉnh thời gian thực hiện nhiệm vụ, chấm dứt nhiệm vụ
cần kèm theo văn bản xác nhận của đối tác;
đ) Đối với những trường hợp điều chỉnh khác không quy định tại điểm a khoản
này, tổ chức chủ trì chủ động quyết định và chịu trách nhiệm về việc điều chỉnh,
trừ trường hợp điều chỉnh sản phẩm là kết quả cuối cùng của nhiệm vụ khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng quy
định tại điểm a khoản 5 Điều 63 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Các nội dung điều chỉnh này, kèm theo báo cáo giải trình lý do điều chỉnh và sự
phù hợp của sự điều chỉnh so với mục tiêu cuối cùng phải được tổng hợp, cập nhật
trên cổng dịch vụ công trực tuyến/Nền tảng số khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo quốc gia hoặc báo cáo bằng văn bản gửi đến cơ quan quản lý nhiệm vụ
trong thời gian 07 ngày kể từ thời điểm thực hiện việc điều chỉnh.
7. Chấm dứt thực hiện nhiệm vụ trong quá trình triển khai
a) Hồ sơ đề nghị chấm dứt thực hiện nhiệm vụ:
Hồ sơ đề nghị chấm dứt thực hiện nhiệm vụ: ngoài quy định tại điểm c, d, đ, e
và i khoản 2 Điều 17 của Nghị định này, hồ sơ cần có báo cáo kết quả thực hiện
đến thời điểm đề nghị chấm dứt; báo cáo sản phẩm (nếu có); tài liệu khác có liên
quan (nếu có);
b) Trình tự, thủ tục chấm dứt thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp tổ chức chủ
trì đề nghị:
Tổ chức chủ trì lập hồ sơ đề nghị chấm dứt thực hiện nhiệm vụ theo quy định
tại điểm a khoản này kèm theo công văn đề nghị gửi đến cơ quan quản lý nhiệm vụ
thông qua cổng dịch vụ công trực tuyến/Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo quốc gia hoặc trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị chấm dứt
thực hiện nhiệm vụ của tổ chức chủ trì, cơ quan quản lý nhiệm vụ gửi văn bản
thông báo tạm dừng thực hiện nhiệm vụ đến tổ chức chủ trì. Sau khi nhận được
văn bản thông báo tạm dừng của cơ quan quản lý nhiệm vụ, tổ chức chủ trì phải
ngừng toàn bộ các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ.
Trong thời hạn 15 ngày sau khi nhận được hồ sơ đề nghị chấm dứt thực hiện
nhiệm vụ, cơ quan quản lý nhiệm vụ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện theo quy
định tại điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 17 của Nghị định này.
Kết quả đánh giá nhiệm vụ là căn cứ để cơ quan quản lý nhiệm vụ ra quyết
định chấm dứt thực hiện nhiệm vụ và tiến hành thanh lý hợp đồng giao nhiệm vụ
theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này.
c) Trình tự, thủ tục chấm dứt thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp cơ quan
quản lý nhiệm vụ chủ động chấm dứt:
Cơ quan quản lý nhiệm vụ gửi văn bản đến tổ chức chủ trì, trong đó nêu rõ căn
cứ, lý do, các tài liệu chứng minh việc cần chấm dứt nhiệm vụ.
Sau khi nhận được văn bản của cơ quan quản lý nhiệm vụ, tổ chức chủ trì phải
ngừng toàn bộ các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ và trong thời hạn 15 ngày, tổ
chức chủ trì nộp hồ sơ đề nghị chấm dứt thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại điểm
a khoản này.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ thời điểm nhận được hồ sơ đề nghị chấm dứt
thực hiện nhiệm vụ, cơ quan quản lý nhiệm vụ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện
theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 17 của Nghị định này.
Trường hợp tổ chức chủ trì không cung cấp hồ sơ theo quy định, cơ quan quản
lý nhiệm vụ thực hiện việc xem xét, đánh giá và kết luận trên cơ sở hồ sơ hiện có
trong thời gian 20 ngày kể từ ngày gửi văn bản. Việc tổ chức đánh giá kết quả thực
hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 4 Điều 17 của Nghị định này.
Kết quả đánh giá nhiệm vụ là căn cứ để cơ quan quản lý nhiệm vụ ra quyết
định chấm dứt thực hiện nhiệm vụ và tiến hành thanh lý hợp đồng giao nhiệm vụ
theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này.
8. Ngoài quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này, bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quan khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quy định chi tiết nội dung đánh giá, hồ sơ, biểu mẫu và trình tự đánh giá,
điều chỉnh, chấm dứt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước trong trường hợp cần thiết.
9. Trách nhiệm của tổ chức chủ trì trong quá trình triển khai nhiệm vụ
a) Báo cáo kết quả triển khai nhiệm vụ tối thiểu 01 lần/năm theo biểu mẫu và
gửi đến cơ quan quản lý nhiệm vụ thông qua cổng dịch vụ công trực tuyến/Nền
tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia hoặc trực tiếp
hoặc qua dịch vụ bưu chính;
b) Cập nhật tình hình thực hiện nội dung, công việc, sử dụng nguyên vật liệu
theo tiến độ triển khai tối thiểu 01 lần/tháng trên cổng dịch vụ công trực tuyến/Nền
tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; trong trường
hợp phát sinh các vấn đề liên quan, tổ chức chủ trì có trách nhiệm gửi kèm báo cáo
nêu tại điểm a khoản này kèm theo các kiến nghị;
c) Cam kết về tính chính xác, trung thực, đầy đủ và kịp thời của thông tin, số
liệu, tài liệu cung cấp trong quá trình triển khai nhiệm vụ.