Điều 16. Nguyên tắc thực hiện các thủ tục thành lập, thay đổi và chấm dứt hoạt động của tổ hợp tác
Căn cứ: Điều 16, 294/2026/NĐ-CP — Nghị định 294/2026/NĐ-CP Về tổ hợp tác
Tóm tắt
Phân biệt thủ tục đối với tổ hợp tác có đăng ký và không đăng ký; quy định thời hạn sửa đổi, bổ sung hồ sơ thông báo là 10 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã ra thông báo, hết thời hạn mà không nộp thì hồ sơ không còn giá trị và bị hủy. Đồng thời nêu nguyên tắc thực hiện thủ tục thông báo trên môi trường điện tử đối với tổ hợp tác không đăng ký.
Ý chính cần nhớ
- ▸Tổ hợp tác có đăng ký: hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký theo pháp luật về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
- ▸Tổ hợp tác không đăng ký: hồ sơ, trình tự, thủ tục thông báo theo Nghị định 294/2026/NĐ-CP.
- ▸Thời gian sửa đổi, bổ sung hồ sơ thông báo thành lập, thay đổi, chấm dứt hoạt động là 10 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã ra thông báo; quá hạn mà không nộp thì hồ sơ không còn giá trị và Ủy ban nhân dân cấp xã hủy hồ sơ thông báo.
- ▸Thủ tục thông báo trên môi trường điện tử đối với tổ hợp tác không đăng ký: người gửi hồ sơ đăng nhập Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để truy cập Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.
- ▸Hồ sơ điện tử gồm giấy tờ theo Nghị định 294/2026/NĐ-CP dưới dạng văn bản điện tử hoặc dữ liệu điện tử theo pháp luật; có giá trị pháp lý tương đương hồ sơ bằng bản giấy.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời hạn sửa đổi, bổ sung hồ sơ thông báo là 10 ngày làm việc; văn bản quy định là 10 ngày kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã ra thông báo.
- Nhầm hệ thống truy cập: phải qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia bằng tài khoản định danh điện tử để vào Hệ thống thông tin về đăng ký hợp tác xã.
- Nhầm giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử: hồ sơ thông báo trên môi trường điện tử có giá trị tương đương hồ sơ bằng bản giấy.
Giải thích
Nguyên văn Điều 16. Nguyên tắc thực hiện các thủ tục thành lập, thay đổi và chấm dứt hoạt động của tổ hợp tác
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.