Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 121/2025/QH15

Điều 17. Hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Căn cứ: Điều 17, 121/2025/QH15 — Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 17 liệt kê các hoạt động giám sát cụ thể của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ xem xét báo cáo công tác, văn bản quy phạm pháp luật, trả lời chất vấn đến tổ chức đoàn giám sát, giám sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo, kiến nghị cử tri, bầu cử và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Điều luật cũng quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hằng năm, có thể điều chỉnh khi cần thiết.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Xem xét báo cáo công tác của các cơ quan trung ương và báo cáo khác trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội.
  • ▸Xem xét văn bản quy phạm pháp luật thuộc các khoản 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật.
  • ▸Xem xét việc trả lời chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội.
  • ▸Tổ chức Đoàn giám sát để tiến hành giám sát chuyên đề và xem xét báo cáo kết quả.
  • ▸Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri.
  • ▸Giám sát việc tuân thủ tổ chức lấy ý kiến trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh; giám sát bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
  • ▸Xem xét báo cáo hoạt động, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có dấu hiệu trái pháp luật; xem xét kiến nghị giám sát và đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm.
  • ▸Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định, tổ chức thực hiện chương trình giám sát hằng năm và điều chỉnh khi cần thiết.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật với xem xét báo cáo công tác.
  • Bỏ sót hoạt động giám sát việc tuân thủ tổ chức lấy ý kiến trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh.
  • Không phân biệt thẩm quyền đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm với thẩm quyền tự mình bỏ phiếu tín nhiệm.

Giải thích

Điều 17 quy định các hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Khoản 1 liệt kê 14 nhóm hoạt động, bao gồm: xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác; xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật; xem xét trả lời chất vấn; tổ chức Đoàn giám sát chuyên đề; xem xét báo cáo kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; giám sát trả lời kiến nghị cử tri; giám sát việc lấy ý kiến trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh; giám sát bầu cử; xem xét báo cáo hoạt động và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; xem xét thực hiện nghị quyết giám sát; xem xét kiến nghị giám sát; đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Khoản 2 quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hằng năm, giao nhiệm vụ cho các cơ quan và có thể điều chỉnh chương trình khi cần thiết.
Nguyên văn Điều 17. Hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các hoạt động giám sát sau đây: a) Xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội thành lập và báo cáo khác theo quy định của pháp luật trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội do Quốc hội giao hoặc khi xét thấy cần thiết; b) Xem xét văn bản quy phạm pháp luật quy định tại các khoản 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 4 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khi tự mình phát hiện hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; c) Xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn quy định điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật này trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội; d) Tổ chức Đoàn giám sát để tiến hành giám sát chuyên đề và xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát; đ) Xem xét báo cáo kết quả giám sát của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội về chuyên đề được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; xem xét báo cáo kết quả giám sát về chuyên đề khác theo đề nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội khi xét thấy cần thiết; e) Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cơ quan, tổ chức, cá nhân; g) Giám sát việc giải quyết, trả lời kiến nghị của cử tri; h) Giám sát việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tuân thủ việc tổ chức lấy ý kiến trong quá trình xây dựng dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và quy định khác của pháp luật có liên quan; i) Giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; k) Xem xét báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; l) Xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có dấu hiệu trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; m) Xem xét việc thực hiện nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát; n) Xem xét kiến nghị giám sát của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; o) Đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định của Quốc hội về bỏ phiếu tín nhiệm. 2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hằng năm của mình; giao Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát và báo cáo kết quả thực hiện với Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trường hợp cần thiết do yêu cầu của thực tiễn, quyết định điều chỉnh chương trình giám sát.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.