Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 73/2026/NĐ-CP

Điều 24. Phân bổ dự toán các khoản chưa phân bổ chi tiết đầu năm

Căn cứ: Điều 24, 73/2026/NĐ-CP — Nghị định 73/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 24 quy định khái niệm, các trường hợp và trình tự phân bổ dự toán chưa phân bổ chi tiết đầu năm. Nội dung gồm: xác định các khoản chưa phân bổ, thẩm quyền đề xuất và quyết định bổ sung, xử lý khi nhiệm vụ thuộc ngân sách cấp trên, trách nhiệm của đơn vị dự toán cấp I sau khi được bổ sung.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Dự toán chưa phân bổ chi tiết đầu năm gồm 4 nhóm: (a) kinh phí chính sách cần hoàn thiện pháp lý; (b) chính sách dự kiến ban hành trong năm thuộc thẩm quyền HĐND cấp tỉnh; (c) nhiệm vụ đã có chủ trương nhưng chưa đủ hồ sơ; (d) nhiệm vụ đã có định mức nhưng chưa xác định số lượng đối tượng.
  • ▸Đơn vị sử dụng ngân sách đề xuất bổ sung gửi đơn vị dự toán cấp I; riêng lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số báo cáo cơ quan khoa học và công nghệ.
  • ▸Bộ Tài chính rà soát, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ; cơ quan tài chính địa phương rà soát, tổng hợp, báo cáo UBND cùng cấp quyết định.
  • ▸Nhiệm vụ thuộc ngân sách cấp trên: UBND cấp xã báo cáo Sở Tài chính để trình UBND cấp tỉnh; UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ.
  • ▸Đơn vị dự toán cấp I sau khi được bổ sung phải kịp thời phân bổ, giao dự toán chi tiết cho đơn vị trực thuộc, bảo đảm đúng mục tiêu, nội dung và tiến độ.
  • ▸Quy trình đề xuất bổ sung thực hiện theo quy trình lập dự toán tại Điều 13 Nghị định 73/2026/NĐ-CP.

Lưu ý dễ nhầm

  • Lẫn giữa 4 nhóm khoản chưa phân bổ chi tiết, đặc biệt nhóm (b) chỉ thuộc thẩm quyền HĐND cấp tỉnh.
  • Nhầm cơ quan tổng hợp ở trung ương: Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng, không phải Quốc hội.
  • Cho rằng đơn vị sử dụng ngân sách gửi trực tiếp cơ quan tài chính trong mọi trường hợp.

Giải thích

Điều 24 Nghị định 73/2026/NĐ-CP giải thích dự toán chưa phân bổ chi tiết đầu năm là phần ngân sách đã được Quốc hội, HĐND quyết định nhưng chưa đủ điều kiện giao chi tiết. Có bốn nhóm: kinh phí chính sách, chế độ, chương trình, nhiệm vụ do bộ, cơ quan trung ương đề xuất nhưng cần hoàn thiện pháp lý; chính sách dự kiến ban hành trong năm thuộc thẩm quyền HĐND cấp tỉnh; nhiệm vụ đã có chủ trương nhưng chưa đủ hồ sơ; nhiệm vụ đã có định mức nhưng chưa xác định số lượng đối tượng. Khi đề xuất bổ sung, đơn vị sử dụng ngân sách gửi đơn vị dự toán cấp I, riêng lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gửi cơ quan khoa học và công nghệ. Cấp trung ương do Bộ Tài chính trình Thủ tướng; cấp địa phương do cơ quan tài chính trình UBND cùng cấp. Nếu nhiệm vụ thuộc ngân sách cấp trên thì UBND cấp xã báo cáo Sở Tài chính, UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính. Sau khi được bổ sung, đơn vị dự toán cấp I phải giao dự toán chi tiết cho đơn vị trực thuộc.
Nguyên văn Điều 24. Phân bổ dự toán các khoản chưa phân bổ chi tiết đầu năm
1. Dự toán chưa phân bổ chi tiết đầu năm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 19 và điểm a khoản 2 Điều 31 của Luật Ngân sách nhà nước là phần dự toán ngân sách đã được Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp quyết định, nhưng chưa đủ điều kiện để giao chi tiết cho cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách và ngân sách cấp dưới tại thời điểm giao dự toán đầu năm, bao gồm: a) Kinh phí thực hiện chính sách, chế độ, chương trình, nhiệm vụ do bộ, cơ quan trung ương quản lý ngành, lĩnh vực đề xuất nhưng cần tiếp tục hoàn thiện căn cứ pháp lý hoặc hướng dẫn để triển khai; b) Kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ chi ngân sách dự kiến ban hành trong năm dự toán thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại điểm l khoản 9 Điều 31 của Luật Ngân sách nhà nước, nhưng đến thời điểm giao dự toán vẫn chưa được ban hành; c) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương thực hiện nhưng chưa đủ hồ sơ, điều kiện theo quy định để giao dự toán chi tiết ngay từ đầu năm; d) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đã có định mức, tiêu chuẩn chi nhưng tại thời điểm lập dự toán chưa xác định được số lượng đối tượng thụ hưởng cụ thể. 2. Trên cơ sở phê duyệt của cấp có thẩm quyền đối với chính sách, chế độ, chương trình, nhiệm vụ đã được bố trí từ nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết đầu năm và tiến độ thực hiện, đơn vị sử dụng ngân sách có văn bản đề xuất bổ sung kinh phí, kèm theo thuyết minh chi tiết nội dung chi và các tài liệu có liên quan, gửi đơn vị dự toán cấp I để tổng hợp, báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp; riêng đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, báo cáo cơ quan khoa học và công nghệ để tổng hợp gửi cơ quan tài chính. 3. Căn cứ đề nghị của đơn vị dự toán cấp I, cơ quan khoa học và công nghệ cùng cấp, Bộ Tài chính có trách nhiệm rà soát, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, cơ quan tài chính các cấp ở địa phương có trách nhiệm rà soát, tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định phân bổ từ nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết để bổ sung cho các nhiệm vụ chi thuộc trách nhiệm bảo đảm của ngân sách cấp mình. 4. Trường hợp nhiệm vụ chi thuộc trách nhiệm bảo đảm của ngân sách cấp trên, Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Sở Tài chính để tổng hợp, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, xử lý từ nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết của ngân sách cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính để tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý từ nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết của ngân sách trung ương. 5. Đơn vị dự toán cấp I sau khi được cấp có thẩm quyền bổ sung dự toán từ nguồn dự toán chưa phân bổ chi tiết có trách nhiệm kịp thời phân bổ và giao dự toán chi tiết cho các đơn vị trực thuộc để thực hiện, bảo đảm đúng mục tiêu, nội dung chi và tiến độ thực hiện theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Luật Ngân sách nhà nước. 6. Quy trình đề xuất bổ sung kinh phí thực hiện theo quy trình lập dự toán quy định tại Điều 13 của Nghị định này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.