Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 45/2026/NĐ-CP

Điều 26. Bảo hành sản phẩm của dự án

Căn cứ: Điều 26, 45/2026/NĐ-CP — Nghị định 45/2026/NĐ-CP Quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Tóm tắt

Điều 26 quy định thời hạn bảo hành tối thiểu sản phẩm dự án CNTT: 24 tháng với dự án quan trọng quốc gia, nhóm A; 12 tháng với nhóm B, C. Mức tiền bảo hành tối thiểu tương ứng 3% và 5% giá trị sản phẩm. Điều cũng quy định trách nhiệm của chủ đầu tư và nhà thầu trong bảo hành, đồng thời loại trừ dự án thuê dịch vụ CNTT.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời hạn bảo hành tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu bàn giao, đưa sản phẩm vào khai thác, sử dụng.
  • ▸Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A: bảo hành 24 tháng.
  • ▸Dự án nhóm B, nhóm C: bảo hành 12 tháng.
  • ▸Mức tiền bảo hành tối thiểu: 3% (bảo hành 24 tháng), 5% (bảo hành 12 tháng) giá trị sản phẩm.
  • ▸Nhà thầu nộp thư bảo lãnh ngân hàng tương đương hoặc hình thức bảo lãnh khác được chủ đầu tư chấp nhận; chỉ được hoàn trả sau khi kết thúc bảo hành và có xác nhận hoàn thành.
  • ▸Nhà thầu được quyền từ chối bảo hành nếu hư hỏng không do lỗi của mình hoặc do chủ đầu tư vi phạm quy định quản lý nhà nước dẫn đến buộc gỡ bỏ, dừng, tạm dừng sử dụng sản phẩm.
  • ▸Không áp dụng bảo hành theo Điều này đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng thời gian bảo hành của nhà sản xuất thiết bị được dùng thay cho thời hạn bảo hành sản phẩm dự án.
  • Nhầm mức tiền bảo hành: 3% cho 24 tháng, 5% cho 12 tháng (ngược lại).
  • Bỏ sót trường hợp nhà thầu được quyền từ chối bảo hành và không phải bồi thường thiệt hại.

Giải thích

Điều 26 quy định về bảo hành sản phẩm của dự án ứng dụng CNTT sử dụng vốn NSNN. Thời hạn bảo hành tối thiểu được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu bàn giao, đưa sản phẩm vào khai thác, sử dụng. Cụ thể: 24 tháng đối với sản phẩm dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A; 12 tháng đối với sản phẩm dự án nhóm B, nhóm C. Thời hạn này là nghĩa vụ của nhà thầu, độc lập với bảo hành thiết bị của nhà sản xuất. Mức tiền bảo hành tối thiểu tính theo tỷ lệ % giá trị sản phẩm: 3% cho sản phẩm bảo hành 24 tháng; 5% cho sản phẩm bảo hành 12 tháng. Nhà thầu phải nộp thư bảo lãnh ngân hàng hoặc hình thức bảo lãnh khác được chủ đầu tư chấp nhận, chỉ được hoàn trả sau khi kết thúc bảo hành và có xác nhận hoàn thành. Về trách nhiệm: chủ đầu tư kiểm tra, yêu cầu khắc phục, có thể thuê nhà thầu khác lấy kinh phí từ tiền bảo hành; nhà thầu phải khắc phục, sửa chữa, thay thế và chịu mọi phí tổn, nhưng được từ chối bảo hành nếu lỗi không do mình hoặc do chủ đầu tư vi phạm dẫn đến buộc gỡ bỏ, dừng sử dụng. Điều này không áp dụng với dự án thuê dịch vụ CNTT.
Nguyên văn Điều 26. Bảo hành sản phẩm của dự án
1. Thời hạn tối thiểu bảo hành sản phẩm của dự án được tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu bàn giao, đưa sản phẩm hoặc hạng mục công việc của dự án vào khai thác, sử dụng và được quy định như sau: a) Bảo hành 24 tháng đối với sản phẩm của dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A; b) Bảo hành 12 tháng đối với sản phẩm của dự án nhóm B, nhóm C. c) Thời hạn bảo hành quy định tại điểm a, b khoản này là nghĩa vụ của nhà thầu cung cấp sản phẩm của dự án và độc lập với thời gian bảo hành đối với từng trang thiết bị công nghệ thông tin của nhà sản xuất, nhà cung cấp, thời gian gia hạn bảo hành của từng trang thiết bị công nghệ thông tin đó (bảo hành mở rộng, nếu có). Thời gian bảo hành đối với từng trang thiết bị công nghệ thông tin theo quy định, chính sách của nhà sản xuất, nhà cung cấp. 2. Mức tiền bảo hành tối thiểu được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) giá trị sản phẩm của dự án và được quy định như sau: a) Đối với sản phẩm có thời hạn bảo hành 24 tháng là 03%; b) Đối với sản phẩm có thời hạn bảo hành 12 tháng là 05%. Nhà thầu có trách nhiệm nộp thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị tương đương cho chủ đầu tư hoặc các hình thức bảo lãnh khác được chủ đầu tư chấp nhận. Nhà thầu chỉ được hoàn trả bảo lãnh sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành. 3. Trách nhiệm của các bên về bảo hành a) Chủ đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án có trách nhiệm: Kiểm tra, phát hiện sai hỏng, lỗi phát sinh trong quá trình sử dụng bình thường để yêu cầu nhà thầu sửa chữa, khắc phục, thay thế. Trường hợp nhà thầu không đáp ứng được việc bảo hành thì chủ đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án có quyền thuê nhà thầu khác thực hiện. Kinh phí thuê được lấy từ tiền bảo hành sản phẩm của dự án; Giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục, sửa chữa, thay thế của nhà thầu; Xác nhận hoàn thành bảo hành sản phẩm của dự án cho nhà thầu; b) Nhà thầu cung cấp sản phẩm của dự án phải thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ bảo hành sản phẩm do mình cung cấp theo quy định của pháp luật và các thỏa thuận trong hợp đồng với chủ đầu tư; có trách nhiệm tổ chức khắc phục; sửa chữa; sửa lỗi chức năng của phần mềm phát sinh trong quá trình sử dụng mà vẫn đang trong thời gian bảo hành; thay thế sản phẩm trong thời hạn theo yêu cầu của chủ đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án và phải chịu mọi phí tổn khắc phục, sửa chữa, thay thế; được quyền từ chối bảo hành và không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp hư hỏng, thiệt hại không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc do chủ đầu tư, cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng sản phẩm của dự án vi phạm quy định quản lý nhà nước và bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc gỡ bỏ, dừng, tạm dừng sử dụng sản phẩm của dự án; c) Nhà thầu phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra hư hỏng, sự cố, sai hỏng đối với sản phẩm của dự án trong thời gian bảo hành và theo thỏa thuận trong hợp đồng với chủ đầu tư, tuỳ theo mức độ vi phạm còn bị xử lý theo quy định của pháp luật. 4. Quy định tại Điều này không áp dụng đối với dự án thuê dịch vụ công nghệ thông tin.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.