Nguyên văn Điều 26. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nguồn gốc
nông, lâm trường
Căn cứ vào phương án sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối
với hộ gia đình, cá nhân được thực hiện như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy
định tại khoản 2 Điều 137 của Luật Đất đai thì diện tích, mục đích sử dụng đất khi
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất
được thực hiện như sau:
a) Trường hợp đất đã được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện
tích đất ở khi công nhận quyền sử dụng đất được xác định theo quy định tại Điều
141 của Luật Đất đai;
b) Trường hợp đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước
ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà trên giấy tờ về quyền sử dụng đất đã ghi rõ diện tích
đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó; trường hợp chưa ghi rõ diện
tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức giao đất ở quy định tại
khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai nếu diện tích thửa đất lớn
38 CÔNG BÁO/Số 913 + 914/Ngày 11-8-2024
hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở, được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất nếu
thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức giao đất ở.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ đời
sống lớn hơn hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này thì diện tích đất ở được
công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở, nhà ở và công trình phục vụ
đời sống đó; người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt
hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này;
c) Đối với phần diện tích còn lại của thửa đất (nếu có) sau khi đã xác định diện
tích đất ở theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì được xác định theo
hiện trạng sử dụng đất.
Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo
hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có
nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy
hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và
phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2
Điều 139 của Luật Đất đai và người đang sử dụng đất có nguồn gốc được giao,
giao khoán, khoán trắng, thuê đất, mượn đất của nông, lâm trường quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 181 của Luật Đất đai mà đã tự ý làm nhà ở thì diện tích, mục
đích sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản
gắn liền với đất được thực hiện như sau:
a) Đất đã được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 mà tại thời điểm cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhà
ở, nhà ở và công trình xây dựng phục vụ đời sống thì diện tích đất ở được công
nhận theo quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và các công trình phục vụ
đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại điểm này thì công
nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhưng phải thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với phần diện tích vượt hạn mức công nhận quy định tại điểm này;
b) Đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01
tháng 7 năm 2014 mà tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhà ở, nhà ở và công trình xây dựng phục vụ đời
sống thì diện tích đất ở được công nhận là hạn mức giao đất ở theo quy định tại
khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai.
Trường hợp diện tích đất đã xây dựng nhà ở, nhà ở và các công trình phục vụ
đời sống lớn hơn diện tích đất ở được công nhận quy định tại điểm này thì công
nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhưng phải thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở quy định tại điểm này;
c) Đối với phần diện tích đất còn lại (nếu có) sau khi đã được xác định theo
quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì được xác định theo hiện trạng đang
sử dụng.
Trường hợp hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp thì được công nhận theo
hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; nếu người sử dụng đất có
nhu cầu công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp mà phù hợp với quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy
hoạch xây dựng hoặc quy hoạch nông thôn thì được công nhận vào mục đích đó và
phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều
139 của Luật Đất đai mà trong khu vực đất lấn, chiếm không có ban quản lý rừng
thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu tài sản gắn liền với đất để sử dụng vào mục đích bảo vệ, phát triển rừng
phòng hộ với hạn mức giao đất quy định tại điểm a khoản 3 Điều 176 của Luật Đất
đai, theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất theo
quy định tại khoản 3 Điều 171 của Luật Đất đai; phần diện tích vượt hạn mức (nếu
có) thì ưu tiên giao cho đối tượng theo quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2
Điều 181 của Luật Đất đai.
4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã sử dụng đất trước ngày giao đất, giao
rừng cho các nông, lâm trường, ban quản lý rừng, khu bảo tồn, vườn quốc gia,
công ty nông, lâm nghiệp thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều
138 của Luật Đất đai.
40 CÔNG BÁO/Số 913 + 914/Ngày 11-8-2024