Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 115/2025/NĐ-CP

Điều 30. Quy định về thuê và cho thuê số thuê bao viễn thông

Căn cứ: Điều 30, 115/2025/NĐ-CP — Nghị định 115/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Viễn thông về quản lý kho số viễn thông, tài nguyên Internet; việc bồi thường khi nhà nước thu hồi mã, số viễn thông, tài nguyên Internet; đấu giá quyền sử dụng mã, số viễn thông, tên miền quốc gia Việt Nam ".vn"

Tóm tắt

Điều 30 cho phép doanh nghiệp viễn thông dùng số thuê bao đã được phân bổ để cho doanh nghiệp khác có giấy phép cùng loại hình dịch vụ thuê lại, nhưng chỉ gắn với việc bán lại dịch vụ viễn thông. Thời hạn thuê, cho thuê không vượt quá thời hạn giấy phép của cả bên thuê và bên cho thuê. Các bên phải tuân thủ quy hoạch, quy định quản lý kho số và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp liên quan.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Doanh nghiệp viễn thông được sử dụng số thuê bao đã được phân bổ để cho doanh nghiệp khác có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông cung cấp cùng loại hình dịch vụ thuê lại để kinh doanh.
  • ▸Chỉ được thuê, cho thuê số thuê bao gắn với việc bán lại dịch vụ viễn thông.
  • ▸Thời hạn thuê, cho thuê không vượt quá thời hạn tương ứng giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp thuê và doanh nghiệp cho thuê.
  • ▸Các bên phải thực hiện đúng quy hoạch kho số viễn thông, quy định quản lý kho số tại Nghị định và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan.
  • ▸Doanh nghiệp cho thuê phải có khả năng bảo đảm đáp ứng được số lượng thuê bao viễn thông để cho doanh nghiệp thuê cung cấp dịch vụ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm được thuê, cho thuê số thuê bao độc lập không gắn với bán lại dịch vụ; thực tế chỉ được gắn với việc bán lại dịch vụ viễn thông.
  • Nhầm thời hạn thuê, cho thuê có thể vượt quá thời hạn giấy phép; thực tế không được vượt quá.

Giải thích

Điều 30 Nghị định 115/2025/NĐ-CP quy định về thuê và cho thuê số thuê bao viễn thông. Theo đó, doanh nghiệp viễn thông được sử dụng số thuê bao đã được phân bổ để cho doanh nghiệp viễn thông khác có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông cung cấp cùng loại hình dịch vụ thuê lại để kinh doanh, nhưng chỉ được thuê, cho thuê số thuê bao gắn với việc bán lại dịch vụ viễn thông. Thời hạn thuê, cho thuê không được vượt quá thời hạn tương ứng các giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp thuê và doanh nghiệp cho thuê. Các doanh nghiệp tham gia phải thực hiện đúng quy hoạch kho số viễn thông, quy định quản lý kho số tại Nghị định và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan. Ngoài ra, doanh nghiệp cho thuê số thuê bao phải là doanh nghiệp có khả năng đảm bảo đáp ứng được số lượng thuê bao viễn thông để cho doanh nghiệp thuê cung cấp dịch vụ viễn thông.
Nguyên văn Điều 30. Quy định về thuê và cho thuê số thuê bao viễn thông
1. Doanh nghiệp viễn thông được sử dụng số thuê bao viễn thông đã được phân bổ để cho doanh nghiệp viễn thông khác có giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông cung cấp cùng loại hình dịch vụ viễn thông thuê lại để kinh doanh. Chỉ được thuê, cho thuê số thuê bao viễn thông gắn với việc bán lại dịch vụ viễn thông. 2. Thời hạn thuê, cho thuê số thuê bao viễn thông không được vượt quá thời hạn tương ứng các giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp thuê, doanh nghiệp cho thuê số thuê bao viễn thông. 3. Các doanh nghiệp viễn thông tham gia thuê và cho thuê số thuê bao viễn thông có trách nhiệm thực hiện đúng quy hoạch kho số viễn thông, quy định quản lý kho số viễn thông tại Nghị định này và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan. 4. Doanh nghiệp viễn thông cho thuê số thuê bao viễn thông phải là doanh nghiệp có khả năng đảm bảo đáp ứng được số lượng thuê bao viễn thông để cho doanh nghiệp thuê số thuê bao viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.