Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 35/2024/QH15

Điều 33. Thi công xây dựng, sửa chữa đoạn đường giao nhau đồng mức giữa đường bộ với đường sắt; thi công sửa chữa mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt, đường bộ giao cắt với đường sắt

Căn cứ: Điều 33, 35/2024/QH15 — Luật Đường bộ số 35/2024/QH15

Tóm tắt

Khi thi công xây dựng, sửa chữa đường bộ tại nơi giao nhau đồng mức với đường sắt hoặc mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt phải được cấp phép theo pháp luật về đường sắt; nếu trên đường bộ đang khai thác còn phải tuân thủ Điều 32 Luật Đường bộ. Khi sửa chữa mặt cầu đi chung hoặc nơi giao cắt với đường sắt, ngoài khoản 1 còn phải thực hiện các quy định về thống nhất phương án thi công, bảo đảm an toàn và cấp phép theo pháp luật đường sắt.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Phải được cấp phép theo pháp luật về đường sắt khi thi công, sửa chữa tại nơi giao nhau đồng mức hoặc mặt cầu đi chung với đường sắt.
  • ▸Trên đường bộ đang khai thác còn phải thực hiện theo Điều 32 Luật Đường bộ số 35/2024/QH15.
  • ▸Khi sửa chữa mặt cầu đi chung hoặc nơi giao cắt với đường sắt: chủ đầu tư thống nhất với cơ quan quản lý đường sắt về thời gian, phương án thi công, tổ chức giao thông.
  • ▸Trường hợp khẩn cấp để khắc phục sự cố ngăn tai nạn, nguy cơ sập đổ thì không cần thống nhất trước.
  • ▸Phải thực hiện quy định khác về bảo đảm an toàn giao thông đường sắt theo pháp luật đường sắt.
  • ▸Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng theo pháp luật đường sắt, hướng dẫn, kiểm tra thi công và an toàn công trình.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng chỉ cần tuân thủ Luật Đường bộ mà quên yêu cầu cấp phép theo pháp luật đường sắt.
  • Nhầm tưởng mọi trường hợp đều phải thống nhất trước với cơ quan quản lý đường sắt, kể cả trường hợp khẩn cấp.
  • Nhầm Điều 32 với Điều 19 khi thi công trên đường bộ đang khai thác.

Giải thích

Điều 33 quy định về thi công, sửa chữa đường bộ tại các vị trí giao cắt với đường sắt. Khi thi công tại nơi giao nhau đồng mức hoặc sửa chữa mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt, chủ thể thi công phải được cấp phép theo pháp luật về đường sắt. Nếu công trình nằm trên đường bộ đang khai thác, còn phải tuân thủ Điều 32 của Luật Đường bộ. Riêng sửa chữa mặt cầu đi chung hoặc nơi đường bộ giao cắt với đường sắt, ngoài khoản 1, chủ đầu tư phải thống nhất với cơ quan quản lý đường sắt về thời gian, phương án thi công và phương án tổ chức giao thông, trừ trường hợp khẩn cấp để khắc phục sự cố. Đồng thời, phải thực hiện các quy định khác về an toàn giao thông đường sắt và chịu sự cấp phép, hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật đường sắt.
Nguyên văn Điều 33. Thi công xây dựng, sửa chữa đoạn đường giao nhau đồng mức
giữa đường bộ với đường sắt; thi công sửa chữa mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt, đường bộ giao cắt với đường sắt 1. Khi thi công xây dựng, sửa chữa đường bộ ở nơi giao nhau đồng mức với đường sắt, sửa chữa mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt phải được cấp phép theo quy định của pháp luật về đường sắt; trường hợp thi công xây dựng, sửa chữa trên đường bộ đang khai thác còn phải thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Luật này. 2. Khi thi công sửa chữa mặt cầu đường bộ đi chung với đường sắt, sửa chữa ở nơi đường bộ giao cắt với đường sắt phải thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này và các quy định sau đây: a) Chủ đầu tư dự án sửa chữa đường bộ thống nhất với cơ quan quản lý đường sắt về thời gian, phương án thi công và phương án tổ chức giao thông, trừ trường hợp cần khắc phục sự cố nhằm ngăn ngừa tai nạn giao thông; nguy cơ sập đổ công trình; b) Thực hiện quy định khác có liên quan đến bảo đảm an toàn giao thông đường sắt theo quy định của pháp luật về đường sắt; c) Cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về đường sắt, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện thi công và công tác bảo đảm an toàn giao thông, an toàn công trình đường sắt và đường bộ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.