Nguyên văn Điều 34. Căn cứ để xác nhận các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 33 của Nghị định này
1. Việc xác nhận hiện trạng sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được căn cứ
vào biên bản của Hội đồng đăng ký đất đai hoặc xác minh thực địa nếu cần thiết.
2. Việc xác nhận tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất được
thực hiện căn cứ vào việc Ủy ban nhân dân cấp xã đang thụ lý đơn yêu cầu hoà
giải tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh
chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc nhận được văn bản hoặc thông báo của
cơ quan có thẩm quyền về việc thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, tài
sản gắn liền với đất.
3. Việc xác nhận sử dụng đất ổn định đối với trường hợp quy định tại khoản 7
Điều 137 của Luật Đất đai được căn cứ vào biên bản của Hội đồng đăng ký đất đai.
4. Việc xác nhận sử dụng đất ổn định đối với các trường hợp không có giấy tờ
về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai được căn cứ vào thời
gian và mục đích sử dụng đất tại một trong các giấy tờ sau đây:
a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng
đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng
công trình gắn liền với đất;
c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết
định về thi hành án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền
với đất;
d) Giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có địa chỉ thuộc thửa đất
phải xác định;
đ) Giấy tờ về giao đất không đúng thẩm quyền hoặc giấy tờ về việc mua, nhận
thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy
định tại Điều 140 của Luật Đất đai;
e) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua
bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan từ
ngày 15 tháng 10 năm 1993 trở về sau;
g) Bản đồ, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai; sổ mục kê, sổ kiến điền được lập
từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 trở về sau;
56 CÔNG BÁO/Số 913 + 914/Ngày 11-8-2024
h) Giấy tờ về việc kê khai, đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân
cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh tại thời điểm kê khai kể từ ngày 15 tháng 10 năm
1993 trở về sau;
i) Giấy tờ về việc đăng ký thường trú, tạm trú tại nhà ở gắn với đất ở do cơ
quan có thẩm quyền cấp;
k) Biên bản ghi nhận kết quả của Hội đồng đăng ký đất đai trong trường hợp
không có một trong các thông tin, giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h
và i khoản này hoặc trên giấy tờ, thông tin đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy
tờ, thời điểm xác lập thông tin và mục đích sử dụng đất.
5. Trường hợp thời điểm bắt đầu sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ hoặc
thông tin quy định tại khoản 4 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt
đầu sử dụng đất được xác định theo giấy tờ hoặc thông tin có ngày, tháng, năm sử
dụng đất sớm nhất.
6. Việc xác nhận sự phù hợp với quy hoạch được thực hiện căn cứ vào các quy
hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cụ thể:
a) Trường hợp đề nghị công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp quy định
tại điểm d khoản 1, điểm d khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 138 của Luật Đất đai,
khoản 3 Điều 25, điểm c khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 26 của Nghị định này thì
căn cứ vào một trong các loại quy hoạch sau: Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
hoặc quy hoạch chung hoặc quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch xây dựng hoặc
quy hoạch nông thôn;
b) Trường hợp quy định khoản 1 Điều 139 của Luật Đất đai thì căn cứ vào quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng;
c) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 139 của Luật Đất đai thì căn
cứ vào quy hoạch lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ;
d) Trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 139 của Luật Đất đai thì
căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng
công cộng;
đ) Trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 139 của Luật Đất đai thì căn
cứ vào quy hoạch lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, quy hoạch sử
dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng công cộng; đối với trường hợp
đề nghị công nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp quy định tại điểm c khoản 2
Điều 26 của Nghị định này thì còn phải căn cứ vào quy hoạch theo quy định tại
điểm a khoản này;
e) Trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 139 của Luật Đất đai mà
không thuộc khoản 5 Điều 25 của Nghị định này và trường hợp quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 140 của Luật Đất đai thì căn cứ vào một trong các loại quy
hoạch như quy định tại điểm a khoản này; trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
140 của Luật Đất đai thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất.