Bài học
84/2025/QH15
Điều 36. Ban hành kết luận thanh tra
Căn cứ: Điều 36, 84/2025/QH15 — Luật Thanh tra số 84/2025/QH15
Tóm tắt
Quy định thời hạn, thủ tục ban hành và nội dung chủ yếu của kết luận thanh tra; trường hợp có văn bản báo cáo, trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; khả năng ban hành nhiều kết luận trong một cuộc thanh tra và sửa đổi, bổ sung trước khi công khai.
Ý chính cần nhớ
- ▸Thời hạn ký ban hành kết luận thanh tra: không quá 15 ngày kể từ ngày nhận dự thảo; với Thanh tra Chính phủ không quá 30 ngày.
- ▸Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra bảo đảm ban hành đúng thời hạn.
- ▸Dự thảo liên quan an ninh, quốc phòng, vụ việc quan trọng, phức tạp thuộc diện chỉ đạo, theo dõi hoặc có yêu cầu của Thủ trưởng: người ra quyết định thanh tra phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.
- ▸Trong 30 ngày kể từ ngày nhận báo cáo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có ý kiến bằng văn bản; nếu không trả lời hoặc không có ý kiến khác thì người ra quyết định thanh tra ban hành ngay kết luận.
- ▸Kết luận thanh tra phải chính xác, khách quan, khả thi và gồm 5 nội dung chủ yếu (đánh giá, kết luận nội dung thanh tra, xác định vi phạm và trách nhiệm, biện pháp xử lý/kiến nghị, hạn chế bất cập và kiến nghị khắc phục).
- ▸Một cuộc thanh tra có thể ban hành nhiều kết luận; trước khi công khai có thể sửa đổi, bổ sung kết luận đã ban hành.
- ▸Kết luận sau khi công khai được gửi đến Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan thanh tra cấp trên, đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm thời hạn 15 ngày áp dụng chung cho mọi dự thảo (thực tế Thanh tra Chính phủ tối đa 30 ngày).
- Nhầm thời hạn Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có ý kiến là 15 ngày (thực tế chậm nhất 30 ngày kể từ ngày nhận báo cáo).
- Nhầm kết luận thanh tra chỉ được gửi sau khi công khai (đúng là sau khi công khai mới gửi theo Điều 36 khoản 5).
Giải thích
Điều 36 Luật Thanh tra số 84/2025/QH15 quy định về ban hành kết luận thanh tra. Về thời hạn, trong 15 ngày kể từ ngày nhận dự thảo kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ký ban hành kết luận và chịu trách nhiệm về kết luận, kiến nghị của mình; riêng dự thảo của Thanh tra Chính phủ có thể dài hơn nhưng không quá 30 ngày. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra bảo đảm ban hành đúng thời hạn. Đối với dự thảo liên quan an ninh, quốc phòng, vụ việc quan trọng, phức tạp thuộc diện chỉ đạo, theo dõi của Ban Chỉ đạo Trung ương hoặc cấp tỉnh, hoặc có yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, người ra quyết định thanh tra phải báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp; chậm nhất 30 ngày kể từ ngày nhận báo cáo, Thủ trưởng có ý kiến bằng văn bản, nếu không trả lời hoặc không có ý kiến khác thì người ra quyết định thanh tra ban hành ngay kết luận. Kết luận thanh tra phải bảo đảm chính xác, khách quan, khả thi và gồm 5 nội dung chủ yếu. Một cuộc thanh tra có thể ban hành nhiều kết luận; trước khi công khai, người ra quyết định thanh tra có thể sửa đổi, bổ sung kết luận đã ban hành. Kết luận sau khi công khai được gửi đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định.
Nguyên văn Điều 36. Ban hành kết luận thanh tra
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo kết luận thanh tra,
người ra quyết định thanh tra ký ban hành kết luận thanh tra và chịu trách nhiệm về
kết luận, kiến nghị của mình. Đối với dự thảo kết luận thanh tra của Thanh tra
Chính phủ, thời hạn có thể dài hơn nhưng không quá 30 ngày kể từ ngày nhận
được dự thảo kết luận thanh tra.
Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm đôn đốc, kiểm
tra để bảo đảm việc ban hành kết luận thanh tra đúng thời hạn theo quy định.
28 CÔNG BÁO/Số 953 + 954/Ngày 21-7-2025
Đối với dự thảo kết luận thanh tra về vụ việc liên quan đến an ninh, quốc
phòng, vụ việc quan trọng, phức tạp thuộc diện chỉ đạo, theo dõi của Ban Chỉ đạo
Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Ban Chỉ đạo phòng,
chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cấp tỉnh hoặc có yêu cầu của Thủ trưởng cơ
quan quản lý nhà nước cùng cấp thì người ra quyết định thanh tra phải có văn bản
báo cáo Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.
Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo, Thủ trưởng cơ
quan quản lý nhà nước cùng cấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung được báo cáo;
trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước không trả lời hoặc không có ý
kiến khác với dự thảo kết luận thanh tra thì người ra quyết định thanh tra ban hành
ngay kết luận thanh tra.
2. Kết luận thanh tra phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, khả thi và bao
gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được
giao của đối tượng thanh tra;
b) Kết luận về nội dung thanh tra;
c) Xác định rõ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; nguyên nhân,
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật (nếu có);
d) Biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị giải pháp, biện pháp xử lý,
khắc phục hậu quả (nếu có) để bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của đối tượng thanh tra, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
đ) Hạn chế, bất cập của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật có liên quan và
kiến nghị khắc phục.
3. Trong quá trình tiến hành thanh tra, người ra quyết định thanh tra có thể ban
hành kết luận thanh tra đối với các nội dung đã được kiểm tra, xác minh, đủ cơ sở
để kết luận và tiếp tục tiến hành thanh tra các nội dung khác trong quyết định thanh
tra. Một cuộc thanh tra có thể ban hành nhiều kết luận thanh tra nhằm phục vụ kịp
thời yêu cầu quản lý nhà nước.
4. Trước khi công khai kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có thể
sửa đổi, bổ sung kết luận thanh tra đã ban hành để bảo đảm tính chính xác, khách
quan, khả thi.
5. Kết luận thanh tra sau khi công khai được gửi đến Thủ trưởng cơ quan quản
lý nhà nước cùng cấp, cơ quan thanh tra cấp trên, đối tượng thanh tra và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.