Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 101/2024/NĐ-CP

Điều 39. Trình tự, thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận đã cấp do bị mất

Căn cứ: Điều 39, 101/2024/NĐ-CP — Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai

Tóm tắt

Điều 39 quy định người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Đơn đăng ký biến động theo Mẫu số 11/ĐK khi Giấy chứng nhận bị mất. Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra, xử lý hồ sơ; UBND cấp xã niêm yết công khai và lập biên bản kết thúc niêm yết. Trường hợp Trang bổ sung bị mất thì nộp thêm bản gốc Giấy chứng nhận để được cấp lại.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người dân nộp Đơn theo Mẫu số 11/ĐK đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ (khoản 1 Điều 21).
  • ▸Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra thông tin Giấy chứng nhận bị mất trong hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.
  • ▸Nếu thửa đất, tài sản đã chuyển quyền hoặc đang thế chấp thì thông báo, trả lại hồ sơ.
  • ▸Hộ gia đình, cá nhân: UBND cấp xã niêm yết công khai 15 ngày, tiếp nhận phản ánh, lập biên bản kết thúc niêm yết trong 05 ngày.
  • ▸Tổ chức, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài: Văn phòng đăng ký đất đai đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng trong 15 ngày, chi phí do người yêu cầu trả.
  • ▸Sau khi hoàn tất, Văn phòng đăng ký đất đai hủy Giấy chứng nhận cũ, cập nhật hồ sơ và cấp lại Giấy chứng nhận.
  • ▸Trường hợp mất Trang bổ sung: nộp Đơn Mẫu 11/ĐK kèm bản gốc Giấy chứng nhận; Văn phòng đăng ký đất đai cấp lại với thông tin cập nhật.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa thời gian niêm yết 15 ngày và thời gian lập biên bản 05 ngày.
  • Cho rằng mọi trường hợp mất Giấy chứng nhận đều được cấp lại ngay, kể cả khi đất đang thế chấp.
  • Nhầm đối tượng phải đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng (tổ chức, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài).

Giải thích

Điều 39 hướng dẫn thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận bị mất. Bước đầu, người sử dụng đất nộp Đơn theo Mẫu số 11/ĐK. Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra thông tin trong hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai. Nếu phát hiện đất đã chuyển quyền hoặc đang thế chấp, hồ sơ bị trả lại. Với hộ gia đình, cá nhân, UBND cấp xã niêm yết công khai 15 ngày, sau đó trong 05 ngày lập biên bản kết thúc niêm yết gửi Văn phòng đăng ký đất đai. Với tổ chức, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, Văn phòng đăng ký đất đai đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng trong 15 ngày, chi phí do người yêu cầu trả. Sau khi hoàn tất, Văn phòng đăng ký đất đai hủy Giấy chứng nhận cũ, cập nhật hồ sơ và cấp lại. Trường hợp mất Trang bổ sung, người dân nộp thêm bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp để được cấp lại với thông tin cập nhật.
Nguyên văn Điều 39. Trình tự, thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận đã cấp do bị mất
1. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 11/ĐK ban hành kèm theo Nghị định này đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định này. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 21 của Nghị định này thì chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai. 68 CÔNG BÁO/Số 913 + 914/Ngày 11-8-2024 2. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện các công việc sau: a) Kiểm tra thông tin về Giấy chứng nhận đã cấp mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất khai báo bị mất trong hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; b) Trường hợp phát hiện thửa đất, tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận đã được chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc đang thế chấp tại các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật thì thông báo, trả lại hồ sơ cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất; c) Trường hợp không thuộc quy định tại điểm b khoản này thì Văn phòng đăng ký đất đai chuyển thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để thực hiện nội dung quy định tại khoản 3 Điều này đối với hộ gia đình, cá nhân; thực hiện đăng tin 03 lần trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương trong thời gian 15 ngày về việc mất Giấy chứng nhận đã cấp đối với tổ chức, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, chi phí đăng tin do người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất chi trả; d) Thực hiện việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp; cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai sau khi đã thực hiện các nội dung quy định tại khoản 3 Điều này; cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người được cấp. Trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp chưa sử dụng bản đồ địa chính hoặc trích đo bản đồ địa chính thửa đất thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 37 của Nghị định này. 3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau: a) Niêm yết công khai về việc mất Giấy chứng nhận đã cấp tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và điểm dân cư nơi có đất trong thời gian 15 ngày; đồng thời tiếp nhận phản ánh trong thời gian niêm yết công khai về việc mất Giấy chứng nhận đã cấp; b) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày kết thúc thời gian niêm yết, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm lập biên bản kết thúc niêm yết và gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai. 4. Trường hợp Trang bổ sung của Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của pháp luật đất đai trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành bị mất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 11/ĐK ban hành kèm theo Nghị định này và bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp. Văn phòng đăng ký đất đai kiểm tra thông tin của Trang bổ sung trong hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; thực hiện cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất với các thông tin cập nhật của Giấy chứng nhận đã cấp và thông tin trên Trang bổ sung.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.