Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 79/2026/NĐ-CP

Điều 4. Thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

Căn cứ: Điều 4, 79/2026/NĐ-CP — Nghị định 79/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

Tóm tắt

Điều 4 quy định cách xác định thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Việc xác định hành vi đã kết thúc hay đang thực hiện được dẫn chiếu theo Nghị định 118/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung) và Luật Xử lý vi phạm hành chính; đồng thời Điều 4 liệt kê cụ thể các nhóm hành vi và mốc tính thời hiệu tương ứng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Việc xác định hành vi đã kết thúc/đang thực hiện theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 118/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 68/2025/NĐ-CP và 190/2025/NĐ-CP).
  • ▸Thời điểm tính thời hiệu theo khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung bởi Luật 67/2020/QH14 và Luật 88/2025/QH15).
  • ▸Hành vi cung cấp thông tin không đúng sự thật; khai báo không đầy đủ, không chính xác để được cấp giấy tờ xuất, nhập cảnh biên giới hoặc làm sai lệch hồ sơ biên phòng điện tử: tính từ ngày thực hiện xong hành vi.
  • ▸Nhóm hành vi về thông báo, khai báo, trình báo, đăng ký, xin phép; không xuất trình giấy phép, sử dụng sai giấy phép, quá thời gian, phạm vi ghi trong giấy phép: tính từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
  • ▸Hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra hoặc chống đối, không cung cấp thông tin theo hiệu lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm quyền: tính từ ngày không chấp hành/chống đối/không cung cấp thông tin.
  • ▸Hành vi vi phạm về thời hạn báo cáo, thông báo: thời điểm chấm dứt là ngày tổ chức, cá nhân báo cáo, thông báo theo quy định.
  • ▸Hành vi vi phạm đang thực hiện không thuộc các trường hợp trên: thời hiệu tính từ ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm giữa mốc 'thực hiện xong hành vi' (điểm a) và mốc 'ngày thực hiện hành vi vi phạm' (điểm b).
  • Nhầm mốc 'ngày báo cáo, thông báo theo quy định' với mốc 'ngày phát hiện hành vi vi phạm'.
  • Bỏ sót việc Điều 4 dẫn chiếu cả Nghị định 118/2021/NĐ-CP và Luật Xử lý vi phạm hành chính để xác định thời hiệu.

Giải thích

Điều 4 hướng dẫn cách tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Trước hết, việc xác định hành vi đã kết thúc hay đang thực hiện được thực hiện theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 118/2021/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung). Thời điểm tính thời hiệu theo khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính (đã được sửa đổi, bổ sung). Điều 4 chia thành các nhóm: (a) hành vi cung cấp thông tin không đúng sự thật, khai báo không đầy đủ, không chính xác để được cấp giấy tờ xuất nhập cảnh biên giới hoặc làm sai lệch hồ sơ biên phòng điện tử – tính từ ngày thực hiện xong hành vi; (b) nhóm hành vi về thông báo, khai báo, trình báo, đăng ký, xin phép, giấy phép – tính từ ngày thực hiện hành vi vi phạm; (c) hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra hoặc chống đối, không cung cấp thông tin theo hiệu lệnh, quyết định – tính từ ngày có hành vi đó; (d) hành vi vi phạm thời hạn báo cáo, thông báo – thời điểm chấm dứt là ngày báo cáo, thông báo theo quy định; (đ) các hành vi vi phạm đang thực hiện khác – tính từ ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện. Nắm đúng các mốc này giúp xác định thời hiệu chính xác.
Nguyên văn Điều 4. Thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia 1. Việc xác định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP. 2. Thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 67/2020/QH14 và Luật số 88/2025/QH15 (sau đây gọi tắt là Luật Xử lý vi phạm hành chính), cụ thể như sau: a) Hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 9; điểm đ khoản 5 Điều 12 Nghị định này thì thời hiệu xử phạt được tính từ ngày cá nhân, tổ chức thực hiện xong hành vi cung cấp thông tin không đúng sự thật; làm thủ tục khai báo không đầy đủ, không chính xác để được cấp giấy tờ có giá trị xuất, nhập cảnh biên giới hoặc làm sai lệch hồ sơ biên phòng điện tử; b) Hành vi vi phạm hành chính quy định về thông báo, khai báo, trình báo, đăng ký, xin phép; không xuất trình giấy phép, sử dụng sai giấy phép, quá thời gian, phạm vi ghi trong giấy phép quy định tại điểm b khoản 2, điểm a khoản 4, điểm a, điểm b khoản 7 Điều 9; điểm b, điểm c khoản 7, khoản 8, điểm b khoản 9, điểm c khoản 10 Điều 11; khoản 1, khoản 2, điểm d, điểm e khoản 5, điểm a, điểm d khoản 6 Điều 12 Nghị định này thì thời hiệu xử phạt được tính từ ngày cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm; c) Hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 3 Điều 10; điểm a khoản 3, điểm e khoản 4, điểm a khoản 5 Điều 12 Nghị định này thì thời hiệu xử phạt được tính từ ngày tổ chức, cá nhân không chấp hành quyết định kiểm tra hoặc chống đối, không cung cấp thông tin theo hiệu lệnh, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; d) Hành vi vi phạm về thời hạn báo cáo, thông báo quy định tại điểm c khoản 3, khoản 5 Điều 11; khoản 1 Điều 14 Nghị định này thì thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm là ngày tổ chức, cá nhân báo cáo, thông báo theo quy định; đ) Hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện là các hành vi vi phạm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, điểm c, điểm d khoản này thì thời hiệu được tính từ ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.