Bài học
33/2024/QH15
Điều 53. Các hoạt động dịch vụ lưu trữ
Căn cứ: Điều 53, 33/2024/QH15 — Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15
Tóm tắt
Liệt kê các hoạt động dịch vụ lưu trữ; xác định đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quy định điều kiện đối với tổ chức kinh doanh dịch vụ lưu trữ và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
Ý chính cần nhớ
- ▸Các hoạt động dịch vụ lưu trữ gồm: kinh doanh hạ tầng kỹ thuật bảo quản tài liệu giấy và vật mang tin khác; kinh doanh hạ tầng kỹ thuật lưu trữ tài liệu số và cơ sở dữ liệu; số hóa, tạo lập, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu; tu bổ, khử trùng, khử axit, vệ sinh tài liệu, kho; tư vấn nghiệp vụ lưu trữ.
- ▸Kinh doanh dịch vụ lưu trữ thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
- ▸Tổ chức kinh doanh dịch vụ quy định tại điểm a và b khoản 1 phải là doanh nghiệp; có cơ sở vật chất, nhân lực phù hợp; cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ phải có Chứng chỉ hành nghề lưu trữ.
- ▸Cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về lưu trữ nơi đặt trụ sở cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
- ▸Cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ tại tổ chức kinh doanh dịch vụ quy định tại điểm c, d, đ khoản 1 và cá nhân độc lập kinh doanh dịch vụ lưu trữ phải có Chứng chỉ hành nghề lưu trữ.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa điều kiện đối với tổ chức kinh doanh hạ tầng (điểm a, b) và điều kiện chứng chỉ hành nghề cho cá nhân (áp dụng cho cả điểm a, b, c, d, đ).
- Tưởng rằng mọi tổ chức kinh doanh dịch vụ lưu trữ đều phải là doanh nghiệp, nhưng chỉ tổ chức tại điểm a và b khoản 1 mới bắt buộc.
Giải thích
Điều 53 quy định các hoạt động dịch vụ lưu trữ gồm: kinh doanh hạ tầng kỹ thuật để bảo quản hồ sơ, tài liệu giấy và vật mang tin khác; kinh doanh hạ tầng kỹ thuật để lưu trữ tài liệu số và cơ sở dữ liệu; số hóa, tạo lập, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu; tu bổ, khử trùng, khử axit, vệ sinh tài liệu, kho; tư vấn nghiệp vụ lưu trữ. Các hoạt động này thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tổ chức kinh doanh dịch vụ tại điểm a và b khoản 1 phải là doanh nghiệp, có cơ sở vật chất, nhân lực phù hợp; cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ phải có Chứng chỉ hành nghề lưu trữ. Tổ chức đáp ứng điều kiện được cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về lưu trữ nơi đặt trụ sở cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ. Cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ tại tổ chức kinh doanh dịch vụ tại điểm c, d, đ và cá nhân độc lập kinh doanh dịch vụ lưu trữ cũng phải có chứng chỉ hành nghề.
Nguyên văn Điều 53. Các hoạt động dịch vụ lưu trữ
1. Các hoạt động dịch vụ lưu trữ bao gồm:
a) Kinh doanh hạ tầng kỹ thuật để bảo quản hồ s
ơ, tài liệu lưu trữ giấy, tài liệu
lưu trữ trên vật mang tin khác;
b) Kinh doanh hạ tầng kỹ thuật để lưu trữ hồ sơ, tài liệu lưu trữ số và cơ sở dữ
liệu tài liệu lưu trữ;
c) Số hóa, tạo lập, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ;
d) Tu bổ, khử trùng, khử axit, vệ sinh tài liệu, kho lưu trữ tài liệu;
đ) Tư vấn nghiệp vụ lưu trữ.
32 CÔNG BÁO/Số 975 + 976/Ngày 23-8-2024
2. Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trữ quy định tại khoản 1 Điều này thuộc
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
3. Tổ chức đầu tư kinh doanh dịch vụ lưu trữ quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp;
b) Có cơ sở vật chất, nhân lực phù hợp để thực hiện hoạt động dịch vụ lưu trữ;
cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ lưu trữ phải có Chứng chỉ hành nghề lưu trữ.
4. Tổ chức đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này được cơ quan
tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quả
n lý nhà nước về lưu trữ
nơi đặt trụ sở cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
5. Cá nhân phụ trách kỹ thuật, nghiệp vụ lưu trữ tại tổ chức kinh doanh dịch vụ
lưu trữ quy định tại các điểm c, d và đ khoản 1 Điều này, cá nhân độc lập kinh
doanh dịch vụ lưu trữ ph
ải có Chứng chỉ hành nghề lưu trữ.
6. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này và quy định trình tự, thủ tục
cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.