Nguyên văn Điều 63. Lập dự toán, phân bổ, quản lý, sử dụng, quyết toán ngân sách nhà
nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
1. Việc lập nội dung đầu tư phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
trong kế hoạch tài chính 05 năm và kế hoạch đầu tư công trung hạn thực hiện theo
quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, bảo đảm phù hợp với
Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và mục tiêu phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của từng giai đoạn.
2. Việc lập dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo phải được thực hiện như sau:
a) Bao gồm dự toán chi đầu tư phát triển, dự toán chi thường xuyên sự
nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương;
b) Được lập theo các nội dung chi quy định tại khoản 1 Điều 62 của Luật này
theo hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương về khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo;
c) Căn cứ kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch tổng thể về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm, kế hoạch về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
d) Dự toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để triển khai các nhiệm
vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Nhà nước tài trợ, đặt hàng thực
hiện gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp và dự toán kinh phí cho
nhiệm vụ mở mới trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí trung bình theo năm
của các nhiệm vụ trong các năm trước được xác định theo từng loại hình nhiệm vụ,
tăng thêm khi có thay đổi chính sách, chế độ có liên quan và điều chỉnh do lạm
phát, giảm phát;
đ) Lập dự toán kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho tổ chức khoa học
và công nghệ công lập được thực hiện hằng năm, trên cơ sở khối lượng nội dung
hoạt động dự kiến do cơ quan chủ quản xác định và dự trù kinh phí cần thiết để
thực hiện, có tính đến điều kiện năng lực nhân lực, cơ sở vật chất và lĩnh vực
chuyên môn của tổ chức. Việc lập dự toán giai đoạn tiếp theo được xác định trên
cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức trong giai đoạn trước liền kề. Dự
toán kinh phí hằng năm từ ngân sách nhà nước để triển khai các nhiệm vụ khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập
gồm dự toán kinh phí cho nhiệm vụ chuyển tiếp và dự toán kinh phí cho nhiệm vụ
mở mới trên cơ sở số nhiệm vụ dự kiến và kinh phí trung bình theo năm của các
nhiệm vụ trong các năm trước, tăng thêm khi có thay đổi chính sách, chế độ có liên
quan và điều chỉnh do lạm phát, giảm phát;
e) Dự toán kinh phí hằng năm từ nguồn kinh phí đầu tư phát triển khác được
lập trên cơ sở căn cứ vào quyết định phê duyệt nhiệm vụ, tiến độ giải ngân và kết
quả hạng mục công việc đã được kiểm tra, đánh giá; Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan khác ở trung ương và địa phương có trách nhiệm tổng hợp kế hoạch chi đầu
tư phát triển khác hằng năm, bao gồm danh mục, mức vốn bố trí chi từng chương
trình, nhiệm vụ, dự án gửi về cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo ở trung ương để tổng hợp.
3. Việc phân bổ ngân sách nhà nước chi cho khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; gắn với kế hoạch
tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 05 năm, kế hoạch về khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, định hướng công nghệ ưu tiên và chương trình
khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được phê duyệt;
b) Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho nhiệm vụ, chương trình có quy mô
lớn, tính liên ngành, liên vùng, có sự tham gia của doanh nghiệp và tạo hiệu ứng
lan tỏa công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ chiến lược, công nghệ mới
nổi có ý nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh quốc gia;
c) Phân bổ ngân sách nhà nước được thực hiện trên cơ sở đánh giá kết quả thực
hiện các nhiệm vụ, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trong các giai đoạn trước
và khả năng đóng góp thực tế của nhiệm vụ, chương trình, dự án vào mục tiêu phát
triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc đánh giá gắn với trách nhiệm
giải trình của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương và địa phương;
d) Bảo đảm công khai, minh bạch;
64 CÔNG BÁO/Số 973 + 974/Ngày 25-7-2025
đ) Kinh phí tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo; kinh phí hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ triển khai hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo giao về các quỹ quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này
được cấp bằng lệnh chi tiền vào tài khoản của các quỹ tại Kho bạc Nhà nước;
e) Phần ngân sách nhà nước không phân bổ qua quỹ được giao dự toán trực
tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
4. Việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện như sau:
a) Ngân sách nhà nước phải được sử dụng với mục tiêu bảo đảm hiệu quả tổng
thể, tiến độ giải ngân, gắn với trách nhiệm trực tiếp, toàn diện của đơn vị sử dụng
ngân sách nhà nước, có sự giám sát, kiểm tra, đánh giá thường xuyên của cơ quan
có thẩm quyền;
b) Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có trách nhiệm
quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện, kết
quả, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước trên Nền tảng số quản lý khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; lưu trữ đầy đủ chứng từ và giải trình khi cơ
quan chức năng yêu cầu;
c) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được
chi theo ủy nhiệm chi của tổ chức chủ trì; quyết toán sau khi hoàn thành hợp đồng,
không phụ thuộc vào năm tài chính; thực hiện quyết toán ngân sách nhà nước hằng
năm theo niên độ ngân sách đối với số kinh phí thực chi đã được Kho bạc Nhà
nước nơi tổ chức chủ trì mở tài khoản giao dịch xác nhận;
d) Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí hỗ trợ hoạt động thường xuyên của tổ chức
khoa học và công nghệ công lập để bảo đảm hoàn thành các kết quả đầu ra cam kết
theo dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm.
5. Nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo áp dụng khoán chi
đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần theo nội dung nghiên cứu
thực hiện như sau:
a) Việc khoán chi đến sản phẩm cuối cùng được áp dụng khi tổ chức chủ trì có
cam kết đạt được các sản phẩm là kết quả cuối cùng của nhiệm vụ. Khi áp dụng
khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tổ chức chủ trì được tự chủ, tự quyết định việc
sử dụng kinh phí, được điều chỉnh giữa các khoản mục chi, nội dung chi, quyết
toán tổng số kinh phí thực hiện nhiệm vụ theo mục chi khoán khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
b) Việc khoán chi từng phần theo nội dung nghiên cứu, tổ chức chủ trì được tự
chủ sử dụng kinh phí khoán, trừ kinh phí chi mua tài sản trang bị để triển khai thực
hiện nhiệm vụ, thuê dịch vụ thuê ngoài chưa có tiêu chuẩn, định mức và đoàn đi
công tác nước ngoài. Tổ chức chủ trì được quyền điều chỉnh các nội dung chi trong
cùng loại hình chi;
c) Tổ chức chủ trì được sử dụng kinh phí từ công lao động để thuê chuyên gia
trong nước, nước ngoài theo thỏa thuận; chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí đúng
mục đích, lưu trữ chứng từ và giải trình khi được yêu cầu. Kinh phí chi cho công
lao động phải nhập vào nguồn thu của tổ chức chủ trì để trả cho cá nhân trực tiếp
tham gia nhiệm vụ, hỗ trợ nhiệm vụ và những nội dung thuê khoán chuyên môn
khác, trừ khoản chi cho cá nhân không thuộc tổ chức chủ trì.
6. Quyết toán ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
tạo thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về đầu
tư công.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.