Bài học
19/2023/QH15
Điều 66. Thực hiện và công nhận kết quả hòa giải thành
Căn cứ: Điều 66, 19/2023/QH15 — Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15
Tóm tắt
Điều 66 quy định trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành theo thời hạn đã thỏa thuận và quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Việc yêu cầu và công nhận được thực hiện theo pháp luật tố tụng dân sự.
Ý chính cần nhớ
- ▸Các bên có trách nhiệm thực hiện kết quả hòa giải thành trong thời hạn đã thỏa thuận trong văn bản về kết quả hòa giải thành.
- ▸Một trong các bên tham gia hòa giải có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành.
- ▸Việc yêu cầu và công nhận kết quả hòa giải thành thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa nghĩa vụ thực hiện kết quả hòa giải thành và quyền yêu cầu Tòa án công nhận.
- Cho rằng thời hạn thực hiện do pháp luật ấn định thay vì theo thỏa thuận của các bên.
Giải thích
Điều 66 nằm trong Chương về giải quyết tranh chấp tại Tòa án, quy định về việc thực thi và công nhận kết quả hòa giải thành. Khi các bên đã hòa giải thành, họ phải tự giác thực hiện đúng thời hạn mà mình đã thỏa thuận trong văn bản về kết quả hòa giải thành. Nếu một bên không thực hiện hoặc muốn đảm bảo tính pháp lý, bên đó có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Trình tự, thủ tục để yêu cầu và được công nhận sẽ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này giúp kết quả hòa giải thành có thể được thi hành như một quyết định của Tòa án, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng.
Nguyên văn Điều 66. Thực hiện và công nhận kết quả hòa giải thành
1. Các bên tham gia hòa giải có trách nhiệm th
ực hiện kết quả hòa giải thành
trong thời hạn đã thỏa thuận trong văn bản về kết quả hòa giải thành.
2. Một trong các bên tham gia hòa giải có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định
công nhận kết quả hòa giải thành.
3. Việc yêu cầu và công nhận kết quả hòa giải thành thực hiện theo quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.