Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 96/2026/NĐ-CP

Điều 67. Chấm dứt hoạt động dự án đầu tư khi không liên lạc được với nhà đầu tư

Căn cứ: Điều 67, 96/2026/NĐ-CP — Nghị định 96/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Tóm tắt

Điều 67 quy định trình tự, thủ tục chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư khi dự án ngừng hoạt động và cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp. Sau khi thực hiện các biện pháp liên lạc và hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày dự án ngừng hoạt động mà vẫn không liên lạc được, cơ quan đăng ký đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Áp dụng khi dự án ngừng hoạt động và cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp.
  • ▸Bước 1: Lập biên bản về việc dự án ngừng hoạt động và không liên lạc được với nhà đầu tư.
  • ▸Bước 2: Gửi văn bản yêu cầu nhà đầu tư liên lạc đến địa chỉ đã đăng ký; quá 30 ngày không liên lạc thì chuyển bước tiếp theo.
  • ▸Bước 3: Gửi văn bản đề nghị hỗ trợ liên lạc đến UBND cấp xã (nhà đầu tư trong nước là cá nhân) hoặc cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam (nhà đầu tư nước ngoài), đồng thời đăng tải thông báo 90 ngày trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư.
  • ▸Sau khi thực hiện các biện pháp trên và hết 12 tháng kể từ ngày dự án ngừng hoạt động mà không liên lạc được, cơ quan đăng ký đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án.
  • ▸Việc quản lý tài sản sau khi chấm dứt thực hiện theo pháp luật dân sự về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú.
  • ▸Trách nhiệm của các cơ quan: cơ quan đăng ký đầu tư chỉ định người giám sát tài sản; cơ quan thuế, hải quan thu hồi nợ; cơ quan đất đai thu hồi đất; cơ quan lao động hỗ trợ người lao động mất việc.
  • ▸Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ liên quan đến dự án được giải quyết tại Tòa án, Trọng tài theo thỏa thuận và pháp luật Việt Nam.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 30 ngày (gửi văn bản yêu cầu liên lạc) với thời hạn 90 ngày (đăng thông báo trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư).
  • Cho rằng cơ quan đăng ký đầu tư được chấm dứt ngay sau khi hết 90 ngày đăng thông báo, mà phải đợi hết 12 tháng kể từ ngày dự án ngừng hoạt động.
  • Nhầm việc quản lý tài sản theo pháp luật dân sự về người vắng mặt tại nơi cư trú với các quy định khác.

Giải thích

Khi dự án đầu tư ngừng hoạt động mà cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp, Điều 67 yêu cầu cơ quan này thực hiện ba bước: lập biên bản, gửi văn bản yêu cầu liên lạc đến địa chỉ đã đăng ký (chờ 30 ngày), và gửi văn bản đề nghị hỗ trợ liên lạc đến UBND cấp xã (nếu nhà đầu tư trong nước là cá nhân) hoặc cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam (nếu nhà đầu tư nước ngoài), đồng thời đăng thông báo 90 ngày trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư. Sau khi thực hiện các biện pháp đó và hết 12 tháng kể từ ngày dự án ngừng hoạt động mà vẫn không liên lạc được, cơ quan đăng ký đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án. Tài sản của dự án được quản lý theo quy định pháp luật dân sự về người vắng mặt tại nơi cư trú. Các cơ quan thuế, hải quan, đất đai, lao động có trách nhiệm xử lý các vấn đề liên quan. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài.
Nguyên văn Điều 67. Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư trong trường hợp cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư
1. Trường hợp dự án đầu tư ngừng hoạt động và cơ quan đăng ký đầu tư không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư thực hiện thủ tục sau: a) Lập biên bản về việc dự án đầu tư ngừng hoạt động và không liên lạc được với nhà đầu tư; b) Gửi văn bản yêu cầu nhà đầu tư liên lạc với cơ quan đăng ký đầu tư để giải quyết việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư đến địa chỉ mà nhà đầu tư đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày gửi văn bản theo quy định tại điểm này mà nhà đầu tư không liên lạc, cơ quan đăng ký đầu tư thực hiện thủ tục quy định tại điểm c khoản này; c) Gửi văn bản đề nghị hỗ trợ liên lạc với nhà đầu tư đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhà đầu tư cư trú (đối với nhà đầu tư trong nước là cá nhân), cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà nhà đầu tư mang quốc tịch (đối với nhà đầu tư nước ngoài) đồng thời đăng tải thông báo yêu cầu nhà đầu tư liên lạc với cơ quan đăng ký đầu tư để giải quyết việc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư trong thời hạn 90 ngày trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư. 2. Sau khi thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày dự án đầu tư ngừng hoạt động mà không liên lạc được với nhà đầu tư hoặc đại diện hợp pháp của nhà đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư. 3. Việc quản lý tài sản của dự án đầu tư sau khi cơ quan đăng ký đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. 4. Trong phạm vi chức năng, thẩm quyền của mình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ sau: a) Cơ quan đăng ký đầu tư chỉ định người giám sát việc quản lý tài sản của dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định tại Điều này khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có quyền, lợi ích liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; b) Cơ quan thuế, hải quan có trách nhiệm thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan để thu hồi nợ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của nhà đầu tư đối với Nhà nước (nếu có); c) Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thực hiện thu hồi đất, xử lý tài sản gắn liền với đất trong trường hợp dự án đầu tư thuộc diện thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai; d) Cơ quan quản lý nhà nước về lao động đề xuất, hướng dẫn hỗ trợ người lao động bị mất việc làm và giải quyết các chế độ liên quan theo quy định của pháp luật về lao động; đ) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư trong phạm vi chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. 5. Mọi yêu cầu hoặc tranh chấp giữa nhà đầu tư với cá nhân, tổ chức về các quyền, nghĩa vụ liên quan đến dự án đầu tư quy định tại Điều này được giải quyết tại Tòa án, Trọng tài theo thỏa thuận giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.