Điều 68. Quản lý đầu tư xây dựng dự án, công trình cần bảo đảm bí mật nhà nước
Căn cứ: Điều 68, 217/2026/NĐ-CP — Nghị định 217/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng
Tóm tắt
Điều 68 Nghị định 217/2026/NĐ-CP quy định việc quản lý đầu tư xây dựng dự án, công trình cần bảo đảm bí mật nhà nước. Dự án, công trình loại này được thực hiện theo Luật Xây dựng 2025 và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước; trình tự thực hiện được ghi cụ thể trong quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan phải tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong suốt quá trình đầu tư xây dựng.
Ý chính cần nhớ
- ▸Dự án, công trình cần bảo đảm bí mật nhà nước thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Xây dựng năm 2025.
- ▸Việc tổ chức thực hiện từ chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và pháp luật về đầu tư xây dựng.
- ▸Nội dung cụ thể được quy định trong quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư.
- ▸Sau khi dự án, công trình được cơ quan có thẩm quyền quyết định, cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quản lý, thực hiện tổ chức thực hiện từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát thi công đến nghiệm thu đưa công trình vào khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng.
- ▸Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện dự án, quản lý hồ sơ, tài liệu và thông tin liên quan phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa yêu cầu bảo mật nhà nước và quy trình xây dựng thông thường; dự án bí mật nhà nước vẫn phải tuân thủ pháp luật về xây dựng.
- Cho rằng mọi dự án bí mật nhà nước đều do Chính phủ quyết định; thẩm quyền quyết định theo Luật Xây dựng năm 2025 và pháp luật liên quan.
- Bỏ sót yêu cầu quản lý hồ sơ, tài liệu theo pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Giải thích
Nguyên văn Điều 68. Quản lý đầu tư xây dựng dự án, công trình cần bảo đảm bí
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.