Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 27/2020/TT-BGDĐT

Điều 7. Đánh giá định kỳ

Căn cứ: Điều 7, 27/2020/TT-BGDĐT — Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học

Tóm tắt

Điều 7 quy định đánh giá định kỳ về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục và về sự hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học. Việc đánh giá được thực hiện vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học theo các mức quy định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời điểm đánh giá định kỳ: giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học.
  • ▸Mức đánh giá môn học, hoạt động giáo dục: Hoàn thành tốt; Hoàn thành; Chưa hoàn thành.
  • ▸Bài kiểm tra định kỳ môn bắt buộc vào cuối học kỳ I và cuối năm học; lớp 4, lớp 5 có thêm bài kiểm tra giữa học kỳ I và giữa học kỳ II môn Tiếng Việt, Toán.
  • ▸Đề kiểm tra thiết kế theo 3 mức: Mức 1 (nhận biết, nhắc lại, áp dụng trực tiếp); Mức 2 (kết nối, sắp xếp để giải quyết vấn đề tương tự); Mức 3 (vận dụng giải quyết vấn đề mới, phản hồi hợp lý).
  • ▸Bài kiểm tra được sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm thập phân và trả lại cho học sinh; điểm không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác.
  • ▸Nếu kết quả kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất nhà trường cho học sinh làm bài kiểm tra khác.
  • ▸Đánh giá phẩm chất, năng lực theo các mức: Tốt; Đạt; Cần cố gắng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa các mức đánh giá môn học (Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành) với các mức đánh giá phẩm chất, năng lực (Tốt, Đạt, Cần cố gắng).
  • Cho rằng bài kiểm tra định kỳ được cho điểm thập phân; thực tế không cho điểm thập phân.
  • Cho rằng điểm bài kiểm tra định kỳ dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác; thực tế không dùng để so sánh.

Giải thích

Điều 7 quy định hai nội dung đánh giá định kỳ. Thứ nhất, đánh giá về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục được thực hiện vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học. Giáo viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt để đánh giá theo ba mức: Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành. Vào cuối học kỳ I và cuối năm học, các môn bắt buộc (Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Tin học và Công nghệ) có bài kiểm tra định kỳ; riêng lớp 4, lớp 5 có thêm bài kiểm tra giữa học kỳ I và giữa học kỳ II môn Tiếng Việt, Toán. Đề kiểm tra được thiết kế theo ba mức: Mức 1 nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả nội dung đã học và áp dụng trực tiếp; Mức 2 kết nối, sắp xếp nội dung đã học để giải quyết vấn đề tương tự; Mức 3 vận dụng để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra phản hồi hợp lý. Bài kiểm tra được sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm thập phân và trả lại cho học sinh; điểm không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường cho học sinh làm bài kiểm tra khác. Thứ hai, đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực do giáo viên chủ nhiệm phối hợp với giáo viên dạy cùng lớp thực hiện vào các thời điểm trên, theo ba mức: Tốt, Đạt, Cần cố gắng.
Nguyên văn Điều 7. Đánh giá định kỳ
1. Đánh giá định kỳ về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục a) Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau: - Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục; - Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt độ ng giáo dục; - Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục. b) Vào cuối học kỳ I và cuối năm học, đối với các môn học bắt buộc: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Tin học và Công nghệ có bài kiểm tra định kỳ; Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kỳ môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kỳ I và giữa học kỳ II. c) Đề kiểm tra định kỳ phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau: - Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng trực tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập; - Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn đề có nội dung tương tự; - Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập và cuộc sống. d) Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh. Điểm của bài kiểm tra định kỳ không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh. 2. Đánh giá định kỳ về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với các giáo viên dạy cùng lớp, thông qua các nhận xét, các biểu hiện trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng phẩm ch ất chủ yếu, năng lực cốt lõi của mỗi học sinh, đánh giá theo các mức sau: a) Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên. b) Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên. c) Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.