Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 207/2026/NĐ-CP

Điều 8. Thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình

Căn cứ: Điều 8, 207/2026/NĐ-CP — Nghị định 207/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất Iượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng

Tóm tắt

Điều 8 quy định các trường hợp thực hiện thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình. Chi phí được lập dự toán; nhà thầu liên quan phải chịu chi phí kiểm định nếu chứng minh được lỗi của mình, trường hợp còn lại tính vào tổng mức đầu tư. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình chi trả chi phí kiểm định trong quá trình khai thác, sử dụng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thí nghiệm đối chứng được thực hiện khi được quy định trong chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế được phê duyệt, hợp đồng xây dựng; hoặc khi vật liệu, sản phẩm, thiết bị, công trình có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng theo hồ sơ thiết kế.
  • ▸Kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được thực hiện trong các trường hợp: theo chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế, hợp đồng; khi có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng hoặc không đủ căn cứ đánh giá, nghiệm thu hoặc xảy ra sự cố; theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền ký hợp đồng dự án PPP; phục vụ cải tạo, nâng cấp; phục vụ bảo trì theo khoản 5 Điều 36 Nghị định này.
  • ▸Chi phí thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng và thử nghiệm khả năng chịu lực được xác định bằng lập dự toán theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
  • ▸Trong quá trình thi công, nhà thầu thiết kế, nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng, sản xuất sản phẩm xây dựng và các nhà thầu khác có liên quan phải chịu chi phí kiểm định nếu kết quả kiểm định chứng minh được lỗi của mình; trường hợp còn lại tính vào tổng mức đầu tư.
  • ▸Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình chi trả chi phí kiểm định trong quá trình khai thác, sử dụng; nếu chứng minh được lỗi thuộc tổ chức, cá nhân nào thì tổ chức, cá nhân đó phải chịu chi phí tương ứng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa thí nghiệm đối chứng và kiểm định xây dựng về trường hợp áp dụng.
  • Cho rằng mọi chi phí kiểm định luôn tính vào tổng mức đầu tư, kể cả khi đã chứng minh được lỗi của nhà thầu.

Giải thích

Điều 8 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định về thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình. Khoản 1 nêu thí nghiệm đối chứng được thực hiện khi được quy định trong chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế xây dựng được phê duyệt, hợp đồng xây dựng; hoặc khi vật liệu, sản phẩm xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình hoặc công trình được thi công có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng theo yêu cầu hồ sơ thiết kế. Khoản 2 quy định kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được thực hiện khi thuộc chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế, hợp đồng; khi công trình, bộ phận công trình có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng hoặc không đủ căn cứ đánh giá, nghiệm thu hoặc xảy ra sự cố; theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền ký hợp đồng dự án PPP; phục vụ cải tạo, nâng cấp; phục vụ bảo trì theo khoản 5 Điều 36. Khoản 3 quy định chi phí được xác định bằng lập dự toán. Khoản 4 quy định trách nhiệm chịu chi phí kiểm định của nhà thầu nếu chứng minh được lỗi, trường hợp còn lại tính vào tổng mức đầu tư. Khoản 5 quy định chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình chi trả chi phí kiểm định trong quá trình khai thác, sử dụng. Khoản 6 giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định nội dung, trình tự, đề cương và báo cáo kết quả kiểm định.
Nguyên văn Điều 8. Thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả
năng chịu lực của kết cấu công trình 1. Thí nghiệm đối chứng trong quá trình thi công xây dựng được thực hiện trong các trường hợp sau: a) Được quy định trong chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế xây dựng được phê duyệt, hợp đồng xây dựng; b) Khi vật liệu, sản phẩm xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình hoặc công trình được thi công xây dựng có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng theo yêu cầu của hồ sơ thiết kế. 2. Kiểm định xây dựng, thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được thực hiện trong các trường hợp sau: a) Được quy định trong chỉ dẫn kỹ thuật, hồ sơ thiết kế xây dựng được phê duyệt, hợp đồng xây dựng; b) Khi công trình, bộ phận công trình đã được thi công xây dựng có dấu hiệu không bảo đảm chất lượng theo yêu cầu của thiết kế hoặc không đủ các căn cứ để đánh giá chất lượng, nghiệm thu hoặc xảy ra sự cố công trình; c) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền ký hợp đồng dự án PPP; d) Phục vụ cải tạo, nâng cấp công trình xây dựng; đ) Phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng theo quy định tại khoản 5 Điều 36 Nghị định này. 3. Chi phí thí nghiệm đối chứng, kiểm định xây dựng và thử nghiệm khả năng chịu lực của kết cấu công trình được xác định bằng cách lập dự toán theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng và các quy định của pháp luật khác có liên quan phù hợp với nội dung, khối lượng công việc theo hợp đồng được ký kết giữa các bên hoặc đề cương được phê duyệt. 4. Trong quá trình thi công xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung ứng, sản xuất sản phẩm xây dựng và các nhà thầu khác có liên quan phải chịu chi phí thực hiện kiểm định xây dựng nếu kết quả kiểm định xây dựng liên quan đến công việc do mình thực hiện chứng minh được lỗi của các nhà thầu này. Đối với các trường hợp còn lại, chi phí thực hiện kiểm định xây dựng được tính vào tổng mức đầu tư xây dựng công trình. 5. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm chi trả chi phí thực hiện kiểm định xây dựng trong quá trình khai thác, sử dụng. Trường hợp kết quả kiểm định xây dựng chứng minh được lỗi thuộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nào có liên quan thì các tổ chức, cá nhân đó phải chịu chi phí kiểm định xây dựng tương ứng với lỗi do mình gây ra. 6. Nội dung, trình tự, đề cương và báo cáo kết quả kiểm định xây dựng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.