Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 30/2026/QĐ-TTg

Điều 15. Trách nhiệm quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế

Căn cứ: Điều 15, 30/2026/QĐ-TTg — Quyết định 30/2026/QĐ-TTg Về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam

Tóm tắt

Điều 15 quy định trách nhiệm của Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ trưởng/Thủ trưởng cơ quan ngang bộ/Chủ tịch UBND cấp tỉnh và cơ quan chuyên môn phụ trách đối ngoại thuộc UBND cấp tỉnh trong quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế. Mỗi chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn riêng, trong đó Bộ Ngoại giao giữ vai trò đầu mối, Bộ Nội vụ xác định cơ quan quản lý với hội, quỹ, còn cấp bộ và cấp tỉnh tổ chức thực hiện, kiểm tra, báo cáo.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, thi hành pháp luật; hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc, kiểm tra; báo cáo Thủ tướng theo Điều 16.
  • ▸Bộ trưởng Bộ Nội vụ: xác định cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoạt động chính của hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành lập theo pháp luật Việt Nam, hoạt động toàn quốc hoặc liên tỉnh.
  • ▸Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh: tuyên truyền, phổ biến, thi hành pháp luật; nâng cao năng lực cán bộ; theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra phân cấp; kiểm tra, xử lý vi phạm; hướng dẫn, đôn đốc báo cáo; thực hiện chế độ báo cáo theo Điều 16.
  • ▸Cơ quan chuyên môn phụ trách đối ngoại thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị được phân cấp: tuyên truyền, phổ biến, thi hành pháp luật; nâng cao năng lực cán bộ; kiểm tra, xử lý vi phạm; hướng dẫn, đôn đốc báo cáo; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm Bộ Nội vụ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng về hội nghị, hội thảo quốc tế; thực tế Bộ Ngoại giao mới báo cáo Thủ tướng.
  • Bỏ sót trách nhiệm của cơ quan chuyên môn phụ trách đối ngoại thuộc UBND cấp tỉnh trong việc báo cáo định kỳ hoặc đột xuất.
  • Nhầm đối tượng tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa khoản 3 (đối tượng tại khoản 1, 2 Điều 5) và khoản 4 (đối tượng tại khoản 3 Điều 5).

Giải thích

Điều 15 phân công trách nhiệm quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế cho bốn nhóm chủ thể. (1) Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật; hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc, kiểm tra; báo cáo Thủ tướng theo Điều 16. (2) Bộ trưởng Bộ Nội vụ xác định cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoạt động chính của hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành lập theo pháp luật Việt Nam, hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh. (3) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật đối với đối tượng thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 5; nâng cao năng lực cán bộ; theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc phân cấp; kiểm tra, xử lý vi phạm; hướng dẫn, đôn đốc báo cáo; thực hiện chế độ báo cáo theo Điều 16. (4) Cơ quan chuyên môn phụ trách đối ngoại thuộc UBND cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị được phân cấp có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật đối với đối tượng thuộc khoản 3 Điều 5 hoặc phạm vi được phân cấp; nâng cao năng lực cán bộ; kiểm tra, xử lý vi phạm; hướng dẫn, đôn đốc báo cáo; định kỳ hoặc đột xuất báo cáo cấp trên.
Nguyên văn Điều 15. Trách nhiệm quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế
1. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có các nhiệm vụ, quyền hạn sau: a) Chủ trì soạn thảo, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam; b) Tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế; c) Hướng dẫn nghiệp vụ, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế; d) Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam theo quy định tại Điều 16 của Quyết định này. 2. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm xác định cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực hoạt động chính của hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh. 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: a) Tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế đối với các đối tượng thuộc phạm vi thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 5 của Quyết định này; b) Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tham gia quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế; c) Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp trong quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế, bảo đảm các nội dung phân cấp được thực hiện hiệu lực, hiệu quả; d) Kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền, hoặc thông báo, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Quyết định này; đ) Hướng dẫn và đôn đốc đơn vị tổ chức báo cáo kết quả tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế; e) Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định tại Điều 16 của Quyết định này và các quy định pháp luật liên quan. 4. Cơ quan chuyên môn phụ trách đối ngoại thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, đơn vị được phân cấp quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế có trách nhiệm: a) Tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thi hành pháp luật về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế đối với các đối tượng thuộc phạm vi thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 5 của Quyết định này hoặc phạm vi được phân cấp; b) Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tham gia quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế; c) Kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền, hoặc thông báo, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Quyết định này; d) Hướng dẫn và đôn đốc đơn vị tổ chức báo cáo kết quả tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế; đ) Định kỳ, hoặc đột xuất theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền, báo cáo bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.