Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 117/2025/QH15

Điều 19. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước

Căn cứ: Điều 19, 117/2025/QH15 — Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 19 quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước tính từ ngày xác định độ mật đến hết thời gian tương ứng với từng độ mật: 30 năm (Tuyệt mật), 20 năm (Tối mật), 10 năm (Mật). Thời hạn có thể ngắn hơn và phải xác định tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bằng dấu hoặc hình thức phù hợp. Điều 19 cũng quy định cách xác định với dự thảo, tài liệu không thể hiện ngày xác định độ mật, trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác và bí mật nhà nước về địa điểm.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước tính từ ngày xác định độ mật của bí mật nhà nước.
  • ▸Thời hạn tối đa: 30 năm đối với độ Tuyệt mật; 20 năm đối với độ Tối mật; 10 năm đối với độ Mật.
  • ▸Thời hạn bảo vệ có thể ngắn hơn thời hạn tối đa nêu trên và phải xác định tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước” hoặc hình thức phù hợp khác khi xác định độ mật.
  • ▸Đối với tài liệu là dự thảo hoặc tài liệu khác không thể hiện ngày xác định độ mật, thời hạn được xác định bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”.
  • ▸Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác, thời hạn tính từ ngày cơ quan, tổ chức khác xác định bí mật nhà nước và thực hiện bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”.
  • ▸Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về địa điểm kết thúc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không sử dụng địa điểm bí mật nhà nước.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 30 năm áp dụng cho độ Tối mật thay vì độ Tuyệt mật.
  • Cho rằng thời hạn bảo vệ luôn cố định, không thể ngắn hơn.
  • Nhầm thời hạn bí mật nhà nước về địa điểm được tính theo năm thay vì kết thúc khi không sử dụng địa điểm.

Giải thích

Điều 19 quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Khoản 1 xác định thời hạn là khoảng thời gian tính từ ngày xác định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời gian: 30 năm đối với độ Tuyệt mật; 20 năm đối với độ Tối mật; 10 năm đối với độ Mật. Khoản 2 cho phép thời hạn bảo vệ ngắn hơn thời hạn tối đa nêu trên, nhưng phải được xác định tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước” hoặc hình thức phù hợp khác khi xác định độ mật. Khoản 3 quy định tài liệu là dự thảo hoặc tài liệu khác không thể hiện ngày xác định độ mật thì thời hạn được xác định bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”. Khoản 4 quy định trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác, thời hạn được tính từ ngày cơ quan, tổ chức khác xác định bí mật nhà nước và thực hiện bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”. Khoản 5 quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về địa điểm kết thúc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không sử dụng địa điểm bí mật nhà nước.
Nguyên văn Điều 19. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước
1. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là khoảng thời gian được tính từ ngày xác định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời gian sau đây: a) 30 năm đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật; b) 20 năm đối với bí mật nhà nước độ Tối mật; c) 10 năm đối với bí mật nhà nước độ Mật. 2. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước có thể ngắn hơn thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này và phải xác định tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước” hoặc hình thức phù hợp khác khi xác định độ mật. 3. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với tài liệu bí mật nhà nước là dự thảo hoặc tài liệu khác không thể hiện ngày xác định độ mật thì được xác định bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”. 4. Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước được tính từ ngày cơ quan, tổ chức khác xác định bí mật nhà nước và thực hiện bằng dấu “Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước”. 5. Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về địa điểm kết thúc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không sử dụng địa điểm bí mật nhà nước.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.